(VEN) - “Mặc dù, Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 được xây dựng trong trạng thái động của một nền kinh tế có sự thay đổi so với giai đoạn trước, cả về cơ cấu và định hướng phát triển, song để đáp ứng yêu cầu cũng như tính hiệu quả của nền kinh tế, hiện có 6 vấn đề liên quan tới chính sách thuế cần đổi mới để phục vụ tái cơ cấu nền kinh tế” - ông Nguyễn Văn Phụng, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính) đã cho biết như vậy trong một cuộc hội thảo diễn ra cuối tháng 5/2012, tại Hà Nội.
Theo Báo cáo số 77/BC-CP ngày 17/4/2012 của Chính phủ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội về đề án tổng thế tái cơ cấu kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế bao gồm: tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng, mà trọng tâm là các NHTM; tái cơ cấu thị trường chứng khoán và các định chế tài chính; tái cơ cấu DNNN; tái cơ cấu đầu tư; và tái cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng kinh tế. Các nội dung này cùng với 13 giải pháp nêu trong Đề án của Chính phủ dự kiến sẽ phát sinh các hoạt động kinh tế đặt ra yêu cầu cần phải có các giải pháp về thuế cho phù hợp.
Thứ nhất,sớm điều chỉnh mức độ động viên thuế và phí trên GDP theo Chiến lược cải cách thuế 2011-2020 và Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015 nhằm tạo điều kiện tăng nguồn lực cho DN và cá nhân tăng tích lũy, tích tụ vốn cho đầu tư. Theo chương trình, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN sẽ được trình Quốc hội thông qua vào năm 2013 để thực hiện từ năm 2014 trở đi sẽ giảm mức thuế suất chung từ 25% xuống còn 22-23%, đồng thời minh bạch các chi phí được trừ khi tính thuế và có thể thay đổi một số biện pháp ưu đãi thuế với các dự án đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, cơ cấu lại đầu tư tạo ra giá trị gia tăng cao mang lại hiệu quả kinh tế với các quy định chặt chẽ về điều kiện, tiêu chí giám sát, tránh lợi dụng để trục lợi. Đồng thời rà soát, bảo đảm cân đối với quy định về ưu đãi thuế đối với DN thành lập mới từ dự án đầu tư tại những địa bàn khuyến khích. Thực tế cho thấy, DN đang hoạt động, có tiềm lực kinh tế để đầu tư chiều sâu dễ dàng hơn, thuận lợi hơn, nhanh chóng mang lại kết quả và hiệu quả hơn nhà đầu tư mới thâm nhập thị trường; sửa đổi Luật thuế TNCN theo hướng cơ cấu lại Biểu thuế, hạ thuế suất tối cao, đảm bảo sự tương quan với điều chỉnh thuế suất thuế TNDN. Do đó, với những trường hợp này, việc giảm thuế TNCN ngoài tác động tâm lý và khuyến khích lao động tay nghề cao còn có ý nghĩa tạo cơ hội cho DN tiết giảm chi phí về lao động.
Thứ hai, đổi mới cơ cấu và cơ chế quản lý DNNN, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN. Trước hết, là các tập đoàn và tổng công ty nhà nước nhằm mục tiêu phân bổ lại và sử dụng có hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của từng DN nói riêng và toàn bộ DNNN nói chung, bảo đảm cho khu vực DNNN thực hiệt tốt vai trò đối với nền kinh tế. Thực hiện giải pháp này sẽ diễn ra các hoạt động thoái vốn tại các DN đã cổ phần hóa ở những ngành, lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ; hoạt động thoái vốn, chuyển nhượng, chuyển giao cổ phần; chuyển giao, chuyển nhượng tài sản, dự án,… tại các tập đoàn, tổng công ty có hoạt động đầu tư ngoài ngành. Hoạt động chuyển giao, sáp nhập, giải thể, phá sản cũng diễn ra nhiều hơn khi các tập đoàn, tổng công ty cơ cấu lại hoạt động kinh doanh, phân bổ lại nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản trị. Những hoạt động trên đòi hỏi phải có những quy định hướng dẫn cụ thể về nghĩa vụ thuế GTGT, thuế TNDN, thủ tục về chứng từ hóa đơn trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo phù hợp với từng loại hoạt động theo nguyên tắc tạo thuận lợi trong giao dịch, nhưng phải được kiểm soát chặt chẽ, tránh thất thoát vốn và tài sản nhà nước.
Thứ ba, tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng mà trọng tâm là các ngân hàng thương mại, không chỉ liên quan đến bản thân các ngân hàng mà còn liên quan đến cả các đối tác của họ là khách hàng DN. Với dự kiến sẽ xảy ra các hoạt động sáp nhập, thâu tóm, cơ cấu lại nợ, trên cơ sở đó thực hiện giao dịch mua, bán nợ, khoanh nợ,… cũng đặt ra yêu cầu cần có nghiên cứu để quy định, hướng dẫn về các biện pháp xử lý nợ, xử lý khoản trích lập dự phòng rủi ro nghiệp vụ có liên quan đến nghĩa vụ thuế của các tổ chức tín dụng khi đặt yêu cầu an toàn hệ thống và lợi ích toàn cục nền kinh tế lên vị trí ưu tiên.
Thứ tư, tái cơ cấu thị trường chứng khoán và các định chế tài chính liên quan cũng đòi hỏi cần phải nghiên cứu đề xuất các cơ chế mới về thuế nhằm khuyến khích nhà đầu tư có tổ chức, nhà đầu tư chuyên nghiêp. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn cụ thể hóa về nghĩa vụ thuế đối với các hoạt động trên thị trường chứng khoán, phù hợp với từng loại hình nhà đầu tư, trong đó có nhà đầu tư thông qua các quỹ đầu tư, làm tăng tính minh bạch sẽ tác động thúc đẩy các nhà đầu tư cá nhân tham gia thông qua các nhà đầu tư chuyên nghiệp là các quỹ. Do đó, Luật thuế TNCN cần bổ sung quy định về việc cho trừ vào thu nhập tính thuế khoản nộp vào quỹ hưu trí tự nguyện nhằm khuyến khích việc hình thành quỹ này. Trường hợp DN tham gia đóng góp vào quỹ hưu trí tự nguyện thì cần khuyến khích cho tính vào chi phí, tuy nhiên, cũng cần có quy định ràng buộc về thời gian, mức độ đóng góp, các điều kiện và tiêu chí giám sát để bảo đảm minh bạch, tránh trục lợi.
Thứ năm, trên cơ sở rà soát để lựa chọn danh mục sản phẩm, ngành nghề, lĩnh vực đưa vào diện ưu tiên khuyến khích phát triển, kết hợp với rà soát quy hoạch vùng lãnh thổ, rà soát danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn để đề xuất sửa đổi, bổ sung các chính sách ưu đãi thuế nhằm khuyến khích đầu tư và định hướng phân bổ lại nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn cần có sự chuyển dịch về cơ cấu. Ngoài ra, như đã đề cập tại giải pháp thứ nhất (điều chỉnh mức động viên thuế), việc rà soát cơ chế ưu đãi đầu tư tới đây cũng cần tính đến cả hình thức đầu tư mới và đầu tư chiều sâu, nâng cao hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị gia tăng, không nhất thiết chỉ ưu đãi cho hình thức đầu tư lập DN mới.
Thứ sáu, trong ngắn hạn, khi nền kinh tế năm 2012 đang gặp nhiều khó khăn, việc triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu nền kinh tế cần kết hợp chặt chẽ với các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường mà Chính phủ tập trung chỉ đạo theo Nghị quyết số 13/2012/NQ-CP ngày 10/5/2012. Các giải pháp hỗ trợ trong điều hành kinh tế vĩ mô, về chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, hỗ trợ về giảm, giãn thuế cần được hướng dẫn cụ thể, kịp thời để chính sách được thực hiện thống nhất, đến đúng đối tượng thụ hưởng và tạo thêm niềm tin cho thị trường./.
Minh Đức |