(VEN) - Một loạt hội nghị, diễn đàn quốc tế quan trọng đã được tổ chức thành công tại Việt Nam và được đánh giá cao trong dư luận quốc tế.
Những sự kiện này được khép lại chỉ trước ít ngày trái bóng World Cup 2010 bắt đầu lăn vào cuộc đua tranh, thu hút hàng triệu triệu con tim từ mọi châu lục.
Nào là Diễn đàn Kinh tế thế giới về Đông Á (WEF Đông Á) diễn ra tại TP.HCM, Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) giữa kỳ năm 2010 tại Rạch Giá (Kiên Giang), Hội nghị quốc tế cấp cao của Liên hợp quốc về Thống nhất hành động, Hội nghị thường niên của Hội Đập lớn thế giới tại Hà Nội… Trong đó có không ít hội nghị lần đầu tiên Việt Nam được đăng cai, khẳng định vị thế Việt Nam đang dâng cao trên trường quốc tế.
Nhưng quan trọng hơn cả, vẫn là những nội dung bổ ích đối với Việt Nam được rút tỉa từ những sự kiện này. WEF Đông Á 2010 chính là dịp để Việt Nam xem xét lại chiến lược phát triển của đất nước, của từng ngành, địa phương và từng tập đoàn kinh tế. Qua các cuộc bàn thảo tại Hội nghị CG, những mặt được và chưa được trong phát triển kinh tế 6 tháng đầu năm 2010 của nước ta đã được nhìn nhận và đánh giá chính xác hơn, khách quan hơn; đặc biệt, hai dự thảo về Chiến lược 10 năm và Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế -xã hội thời kỳ tới đã được các chuyên gia quốc tế đóng góp nhiều ý kiến xây dựng.
Những mục tiêu được Chính phủ Việt Nam dự kiến phấn đấu theo Kế hoạch và Chiến lược 5-10 năm tới, dưới góc nhìn từ các chuyên gia nước ngoài, không phải là những kỳ vọng quá sức (kể cả khối lượng vốn đầu tư cần thiết). Nhưng theo họ, vấn đề mấu chốt là tới đích bằng giá nào và có bền vững hay không.
Để hiện thực hóa Kế hoạch và Chiến lược đó, những nhà hoạch định chiến lược và kế hoạch đã đề xuất 3 khâu đột phá, bao gồm: Chất lượng nguồn nhân lực, Phát triển cơ sở hạ tầng và Cải cách thể chế. Nhưng vấn đề đặt ra là trong 3 khâu đột phá này, khâu nào mang tính quyết định nhất, bởi nếu cào bằng vị trí của 3 khâu này sẽ là một sai lầm, gây hậu quả không nhỏ.
Bài học của hơn 20 năm đổi mới cho thấy, cải cách thể chế hay đổi mới cơ chế kinh tế luôn đóng vai trò then chốt, là khâu đột phá của những khâu đột phá. Điều đó đã được khẳng định qua những thành công trong thời gian qua của chính sách khoán nông nghiệp, chính sách mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, chính sách phát triển kinh tế tư nhân, đường lối hội nhập quốc tế…
Vì sao phương thức đầu tư công - tư (PPP) đến bây giờ nước ta mới bắt đầu nghiên cứu ứng dụng?. Vì sao chất lượng nguồn nhân lực nước ta còn thấp kém, mặc dù mạng lưới các trường dày đặc?. Vì sao kết quả ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ những năm qua đạt rất thấp; tăng trưởng kinh tế không dựa chủ yếu vào tăng năng suất lao động?. Vì sao qua hơn 20 năm đổi mới vẫn chưa xuất hiện những phát minh, sáng chế khoa học-kỹ thuật có tầm cỡ quốc tế, mặc dù số người có hàm cấp học vị cao không hề hiếm?. Vì sao đầu tư công, chi tiêu công đạt hiệu quả thấp nhất so với các loại đầu tư khác và bội chi hay “lạm chi” ngân sách nhà nước năm nào cũng ở mức “vượt kế hoạch”?. Hay vì sao cho tới nay, trong cộng đồng công chức và viên chức nhà nước, tính một cách “sòng phẳng”, vẫn không ai sống đủ bằng lương, nhưng ai cũng sống được, đặc biệt trong đó, một số người không chỉ “sống được” mà còn sống một cách “khá giả”?. Còn nhiều câu hỏi như thế, thể hiện tính nghịch lý trong đời sống kinh tế - xã hội hiện nay.
Từ những hội nghị vừa qua, các khuyến nghị của các chuyên gia quốc tế và trong nước đều tập trung vào khía cạnh: Việt Nam cần đẩy nhanh cải cách thể chế kinh tế một cách hiệu quả hơn nữa; sự nghiệp chuyển đổi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường vẫn cần được tiếp tục thực thi triệt để hơn, rộng khắp hơn và hiệu quả hơn. Có như vậy, thời kỳ “dân số vàng” của nước ta mới có thể ghi dấu son trong lịch sử phát triển đất nước./.
VEN |