
|
(VEN) - Hệ thống ngân hàng trong nước cần nâng cao khả năng quản trị, phải bảo đảm để sự cạnh tranh không tạo nên tình trạng bất ổn của hệ thống tài chính quốc gia.
Đó là một làn sóng cạnh tranh lành mạnh nhằm phát triển, góp phần tích cực vào tiến trình hội nhập nền kinh tế quốc tế và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh đã nói như vậy tại hội thảo “Ngân hàng Việt Nam vượt qua khủng hoảng, hướng đến tương lai” do Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức cuối tuần qua tại TP.HCM.
Theo tiến sĩ, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, việc các quốc gia tung ra gói kích thích 10.000 tỷ USD sẽ làm một số nước thâm hụt ngân sách và có thể tiếp tục bị tác động trong 10 năm tới. Nguy cơ tái khủng hoảng ở Mỹ và một số quốc gia khác có thể xảy ra bởi tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng, USD chưa ổn định, giá dầu thô và giá vàng biến động.
Các ngân hàng, DN cần đề phòng biến động tỉ giá, xây dựng phương án tín dụng hợp lý để phù hợp với những biến đổi của thị trường, ông Doanh khuyến cáo.
Tiến sĩ Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Ngân hàng TP.HCM cho rằng năm 2010, kinh tế trong và ngoài nước còn phức tạp, hệ thống ngân hàng sẽ đối đầu với nhiều thách thức.
Tiến sĩ Dương đánh giá, ngân hàng ngoại có ưu thế về vốn, kinh nghiệm, kỹ năng, quản trị nguồn nhân lực...cho nên, đây sẽ là thử thách lớn cho hoạt động của ngân hàng trong nước. Chưa kể, chứng khoán, vàng, quỹ đầu tư... cũng sẽ cạnh tranh với ngân hàng để “vét” tiền nhàn rỗi trong dân cư. Thực hiện cam kết mở cửa thị trường trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, hệ thống ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với sự hội nhập ồ ạt từ những ngân hàng nước ngoài. Diễn biến này tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi khả năng quản trị của các ngân hàng trong nước phải cao và hiệu quả hơn nữa.
Đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng trong nước, tiến sĩ Dương cho rằng nhiều ngân hàng chưa có tầm nhìn chiến lược, chủ yếu mang tính ngắn hạn bởi những biểu hiện mang tính chụp giật, bất chấp rủi ro hệ thống. Ví dụ như khi đã đạt trần lãi suất cho vay, huy động, có ngân hàng đặt ra các mức phí khác, đẩy phần lãi thực tế lên cao. Hơn nữa, các ngân hàng hiện chú trọng đến việc cung ứng những dịch vụ mà mình có, chứ chưa quan tâm xem khách hàng cần thêm những điều gì. Việc gửi tiền lên các vùng núi, vùng sâu, vùng xa thông qua dịch vụ của ngân hàng vẫn còn rất khó khăn, là minh chứng cho trường hợp này.
Các giải pháp huy động vốn chủ yếu là tăng lãi suất làm tăng chi phí đầu vào trong khi đầu ra lại quá hẹp. Việc thẩm định cho vay chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp, chưa quan tâm đến năng lực trả nợ của người vay. Do đó, khi bối cảnh kinh tế, chính sách tiền tệ thay đổi, các ngân hàng sẽ đối mặt nhiều rủi ro.
Điều mà các chuyên gia tài chính lưu ý là ít ngân hàng biết chớp thời cơ vượt qua khủng hoảng. Bài học từ Ngân hàng Á Châu (ACB) cho thấy khi khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 manh nha bùng nổ, nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bán tháo trái phiếu Chính phủ. ACB nhanh tay bỏ ra 190.000 tỷ đồng đầu tư vào trái phiếu Chính phủ để dự phòng rủi ro và chỉ trong một thời gian ngắn, ngân hàng này đã gặt hái thành quả.
TS Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, cho rằng các ngân hàng cần có đội ngũ đủ khả năng phân tích, dự báo thị trường mới có thể bắt được thời cơ trong bối cảnh khủng hoảng. Còn TS Lê Thẩm Dương nhấn mạnh các ngân hàng phải đặt yếu tố quản trị rủi ro lên hàng đầu, dự trữ thanh khoản tốt, không quá chú trọng lợi nhuận, gia tăng khi hợp tác với ngân hàng bạn, các tổ chức tài chính khác...
Theo tiến sĩ Dương, các ngân hàng cần có những hoạt động tái cấu trúc để nâng cao khả năng cạnh tranh. Trong năm 2010, việc các ngân hàng cần làm ngay là quản trị rủi ro tốt, đầu tư công nghệ, gia tăng hợp tác, tìm nét riêng cho sản phẩm.../.
Kim Chi |