Chuyển bộ gõ
Chủ trương mua dự trữ 200.000 tấn cà phê: Doanh nghiệp khát vốn, dân đợi giá lên cao
Cập nhật lúc:  09:33 23/06/2010



(VEN) - Từ ngày 13/4/2010, kế hoạch mua tạm trữ 200.000 tấn cà phê đã được Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 481/QĐ-TTg nhằm tăng khả năng dự trữ cà phê khi giá thế giới xuống thấp, đồng thời hỗ trợ trực tiếp cho người trồng cà phê khi có rủi ro về thị trường giá cả...

Từ đó đến nay đã hơn 2 tháng trôi qua, thời hạn quy định đã sắp hết nhưng số lượng cà phê thu mua vẫn không được bao nhiêu.
Giải ngân chậm trễ
Ngày 13/4, Thủ tướng quyết định hỗ trợ mua tạm trữ cà phê niên vụ 2009 với khối lượng 200.000 tấn trong thời gian 3 tháng, bắt đầu từ ngày 15/4 tới 15/7/2010. Với quyết định này, các DN thu mua cà phê tạm trữ sẽ nhận được hỗ trợ lãi suất 6%/năm với thời gian kéo dài 6 tháng. Đã có 8 công ty được Hiệp hội Cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa) phân công thu mua tạm trữ, nhưng theo báo cáo sơ bộ của Bộ NN&PTNT, tính đến thời điểm này trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, các DN mới chỉ thu mua được khoảng 15.000 tấn cà phê theo chủ trương tạm trữ.
Tại hội thảo “Cơ chế, chính sách tiêu thụ, dự trữ cà phê gắn với sản xuất” diễn ra mới đây tại Hà Nội, các đại biểu cho rằng, khi vào vụ người dân thường thu hoạch đến đâu là bán hết đến đó, giá xuống cũng vẫn phải bán để lo trang trải chi phí, nợ nần. Do vậy, khi chủ trương thu mua tạm trữ khoảng 200.000 tấn từ ngày 15/4 được đưa ra thì thực tế phải sau một tháng các ngân hàng mới giải ngân cho các DN để thu mua tạm trữ, lúc này cà phê trong dân đã không còn nhiều.
Ông Phan Huy Thông, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) cho biết: “Thu mua cà phê không đạt yêu cầu do nguồn vốn khó khăn. DN không có đủ tiền để mua và một phần do người dân không còn cà phê để bán hoặc còn nhưng không muốn bán, để đợi giá lên cao hơn nữa”.
Theo Vicofa, ngành cà phê Việt Nam cũng đang tồn tại vấn đề là có quá nhiều DN nhỏ thu mua cà phê. Hiện có tới 168 DN xuất khẩu cà phê, đa phần là DN nhỏ, trong khi đó chỉ có 26 DN nước ngoài đặt đại diện thu mua tại Việt Nam. Các DN nhỏ này hầu hết không có nhiều vốn để dự trữ cà phê. Do vậy, họ nhập xong là bán ngay dẫn tới tình trạng “trăm người mua - vạn kẻ bán” làm cho giá cà phê Việt Nam giảm xuống nhanh chóng và luôn bị DN nước ngoài ép giá. Theo thống kê của Vicofa, chỉ trong hai tháng đầu năm 2010, các DN trong nước đã xuất khẩu tổng cộng 278.000 tấn cà phê, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm ngoái mặc dù giá cà phê liên tục giảm.
Hơn nữa, trước thời điểm quyết định mua tạm trữ, đa số người trồng cà phê đã bán cà phê để lấy tiền trang trải nợ nần. Do vậy, khi Quyết định 481 được ban hành, việc mua tạm trữ chỉ có tác dụng ghìm giá không giảm chứ thực tế người dân không được hưởng lợi nhiều. DN xuất khẩu cà phê có vốn lưu động thấp, không có tiền để mua tạm trữ cà phê, chờ thời điểm có lợi để bán. Việc “mua non, bán non” đã dẫn tới nguồn cung dư thừa khiến giá giảm từ 1.445 USD/tấn (tháng 10/2009) xuống còn 1.327 USD/tấn (tháng 4/2010).
Hơn nữa, trong thời gian qua, các hợp đồng mua bán cà phê thực hiện theo nguyên tắc trừ lùi và chưa chốt giá, vì vậy khi giá giảm liên tục, nhiều DN đã thua lỗ, không được ngân hàng cho vay vốn để thu mua tạm trữ.
Quỹ bảo hiểm cho cà phê: Giải pháp tối ưu?
Theo nhận định của Vicofa, thực tế, việc thu mua tạm trữ cà phê đã thực hiện được hai năm nhưng chưa đạt nhiều thành công. Nguyên nhân chủ yếu là thời điểm mua không kịp thời. Thủ tục hành chính từ lúc quyết định mua tới lúc ngân hàng giải ngân cho các DN mua tạm trữ lên tới 1 tháng. Trong khi đó, giá cà phê thay đổi từng giờ trên thị trường thế giới.
Mặc dù Việt Nam là nước có sản lượng cà phê Robusta lớn nhất thế giới nhưng lại không có khả năng chi phối và hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường nước ngoài. DN và nông dân không có liên kết chặt chẽ dẫn tới tình trạng tranh mua - tranh bán thường xuyên diễn ra trên “sân nhà”, do vậy càng bị ép giá. Nguyên nhân chính là ngành cà phê Việt Nam chưa có một chiến lược phát triển lâu dài; hệ thống chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu chưa chuyên nghiệp.
Đa số các ý kiến tại hội thảo đều cho rằng, trước mắt nên thành lập một quỹ để bình ổn giá. Khi giá cà phê xuống thấp thì mua cho nông dân, khi giá lên quỹ này có thể bán ra. Quỹ này không nhất thiết phải mua tạm trữ đủ thời gian mà thấy giá có lợi thì có thể bán ngay. Ông Nguyễn Văn An, Chủ tịch Tập đoàn Thái Hòa, một trong những DN được phân công thu mua tạm trữ cà phê cho rằng: Cần phải có bảo hiểm cho nông nghiệp. Khi giá thấp, bảo hiểm hỗ trợ trực tiếp cho nông dân còn khi giá cao thì gián thu của nông dân để lập ra một quỹ bình ổn giá. Không nên lấy ngân sách để hỗ trợ. Quỹ bảo hiểm hàng hóa được trích từ khi các DN lập tờ khai xuất khẩu. Theo ông An, nếu cho nông dân vay mà họ làm không hiệu quả thì khó đòi nợ, hơn nữa nông dân cũng không dễ tiếp cận được với vốn ngân hàng.
Thời điểm mua tạm trữ cũng rất quan trọng. Ông Lương Văn Tự, Chủ tịch Vicofa cho rằng: Khi DN xin mua dự trữ bao nhiêu thì Chính phủ nên giao cho một ủy ban điều phối quyết ngay bởi nếu DN phải đi xin ý kiến hiệp hội, các Bộ, tỉnh rồi xin ý kiến Thủ tướng, sau mới tới ngân hàng giải ngân thì mất rất nhiều thời gian và bỏ lỡ cơ hội. Ngoài ra, Việt Nam cũng nên học tập kinh nghiệm từ Brazil khi quốc gia xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới này đã hình thành được chính sách ổn định, dự trữ do một ủy ban điều phối quyết định. 
Quỹ bình ổn giá cà phê được kỳ vọng sẽ làm tăng khả năng dự trữ cà phê khi giá thế giới xuống thấp, kiểm soát giá cà phê xuất khẩu, nhất là đối với các hợp đồng, giao hàng tương lai và kỳ hạn, đồng thời ngăn ngừa được hiện tượng ép giá thu mua, hạ giá khi xuất khẩu gây thiệt hại cho người trồng cà phê và lợi ích đất nước; hỗ trợ trực tiếp cho người trồng cà phê khi có rủi ro về thị trường và giá cả./.
Nguyễn Tiến Dũng


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại