(VEN) - Với những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, ổn định an ninh chính trị, Tây Nguyên đang khai thác các tiềm năng sẵn có để phục vụ phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, nâng cao đời sống của nhân dân và rút ngắn khoảng cách phát triển với các vùng khác trong cả nước.
Nhiều tiềm năng mời gọi
Tây Nguyên gồm 5 tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng, với diện tích tự nhiên 5,4 triệu ha, dân số trên 5 triệu người, gồm 45 dân tộc thiểu số (chiếm trên 1,7 triệu người). Với địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn nên mạng lưới sông suối Tây Nguyên khá dày, nhiều ghềnh thác như Yaly, Sêsan, Sêrêpốk, Buôn Kuốp, Buôn Tua Srah, Đồng Nai… trữ lượng thủy năng chiếm trên 22% nguồn thủy năng của cả nước, có thể sản xuất 15 tỷ kWh điện mỗi năm. Tây Nguyên có 1,36 triệu ha đất đỏ bazan, chiếm hơn 66% diện tích đất bazan của cả nước, phù hợp với các loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày như cà phê, cao su, tiêu, cây điều... Toàn vùng hiện có trên 470 ngàn ha cà phê với sản lượng hàng năm đạt gần 1 triệu tấn; 144 ngàn ha cao su với sản lượng 111 ngàn tấn mủ khô/năm; 236 ngàn ha bắp cho sản lượng 1 triệu tấn; 32 ngàn ha mía với sản lượng khoảng 1,7 triệu tấn; 28 ngàn ha chè có sản lượng 190 ngàn tấn búp tươi và 15,7 ngàn ha hồ tiêu mỗi năm thu hoạch khoảng 39 ngàn tấn… Vì vậy, nền nông nghiệp ở Tây Nguyên đang phát triển theo hướng hàng hóa, chủ yếu phục vụ xuất khẩu (hiện kim ngạch xuất khẩu của vùng đạt trên 2 tỷ USD mỗi năm). Tài nguyên khoáng sản ở Tây Nguyên cũng rất phong phú, phân bổ tập trung với trữ lượng lớn như than bùn, than nâu, cao lanh, puzơlan; đặc biệt là quặng bauxite có trữ lượng khoảng 4,5 tỷ tấn, chiếm 91% trữ lượng bauxite của cả nước được phân bố chủ yếu ở Đắk Nông và Lâm Đồng.
Để khai thác các của nguồn tài nguyên phong phú này, những năm gần đây,đã có nhiều dự án đầu tư tại Tây Nguyên. Trong đó phải kể đến những dự án khai thác khoáng sản lớn của Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam Nam (khai thác bauxít), Tập đoàn Đức Long Gia Lai thác mỏ đá granit oplat ở Gia Lai… Việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản đã góp phần tăng doanh thu, lợi nhuận cho các DN, tạo công ăn việc làm cho người lao động, khơi dậy tiềm năng khoáng sản của Tây Nguyên cũng như thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, góp phần thay đổi diện mạo của Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung. Ngoài ra trong 5 tỉnh Tây Nguyên thì Lâm Đồng đang là địa phương đi đầu thu hút đầu tư. Tính từ năm 2009 đến tháng 11/2011 có 322 dự án được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký gần 56.600 tỷ đồng, nâng tổng số dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư còn hiệu lực trên địa bàn lên 685 dự án với tổng vốn đăng ký gần 96.000 tỷ đồng. Các lĩnh vực được nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đó là du lịch, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chế biến nông sản, dệt may...
Tuy nhiên, mặc dù là vùng đất có tiềm năng lớn về nông, lâm nghiệp, du lịch, khoáng sản... nhưng những thành tựu về kinh tế, thu hút đầu tư của vùng đạt được trong thời gian qua vẫn còn hạn chế, thu ngân sách chỉ đáp ứng được 40% dự toán chi của địa phương. Từ khi Luật Đầu tư có hiệu lực (tháng 7/2006) đến nay, Tây Nguyên thu hút được 1.569 dự án với tổng số vốn đăng ký là 262.692 tỷ đồng. Mới có khoảng 25% số dự án và 22% số vốn đăng ký được thực hiện, quy mô các dự án còn nhỏ, công nghệ đơn giản, ít dự án tạo ra giá trị gia tăng cao... Ông Đặng Huy Đông, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính đến hết tháng 8/2011, Tây Nguyên mới thu hút được 149 dự án FDI (chủ yếu tập trung ở Lâm Đồng) với vốn đăng ký 808 triệu USD, chỉ bằng 1,15% về số dự án và 0,4% về tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký của cả nước, thực trạng thu hút đầu tư như thế là khiêm tốn, chưa phát huy được thế mạnh của Tây Nguyên - ông Đông nhấn mạnh.
Tây Nguyên - Cơ hội và thời cơ mới
Hầu hết lãnh đạo 5 tỉnh thành Tây Nguyên đều cho rằng nguyên nhân lớn nhất dẫn đến các nguồn vốn đầu tư vào Tây Nguyên còn hạn chế là do hạ tầng kinh tế xã hội của vùng, nhất là hạ tầng giao thông còn kém và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư. Để gỡ hai nút thắt về hạ tầng và nguồn nhân lực, tại hội nghị đánh giá hiệu quả và xác định nhu cầu xúc tiến đầu tư vào các tỉnh Tây Nguyên vào cuối tháng 10/2011,lãnh đạo các tỉnh Tây Nguyên đã kiến nghị Chính phủ tập trung ưu tiên đầu tư cho các trục đường liên vùng, nối Tây Nguyên với các cảng biển, xây dựng một chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho Tây Nguyên; Đề xuất việc xây dựng một cơ chế đặc thù cho khu vực Tây Nguyên để ưu đãi các nhà đầu tư… Về kinh tế đối ngoại, cần thúc đẩy các chương trình hợp tác vùng “Tam giác phát triển” tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại với các tỉnh vùng biên của Lào và Campuchia, triển khai thực hiện đồng bộ chính sách kinh tế cửa khẩu và hình thành các khu thương mại tự do giữa Tây Nguyên với các khu vực thuộc tiểu vùng sông Mê Kông; Khuyến khích các DN tham gia hợp tác đầu tư xây dựng hạ tầng, khai thác khoáng sản, thủy điện, hợp tác sản xuất, chế biến và xuất khẩu các mặt hàng nông sản…
Đặc biệt về đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội cho các tỉnh Tây Nguyên, theo Bộ Giao thông Vận tải, từ nay đến năm 2015, vùng Tây Nguyên cần 30.476 tỷ đồng đầu tư cho hạ tầng giao thông nhưng khả năng cân đối được nguồn vốn chỉ khoảng 7.500 tỷ đồng, thiếu 22.976 tỷ đồng. Theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông, với số vốn ít ỏi hiện có, Bộ Giao thông vận tải nên tập trung vào một số dự án trọng điểm, quan trọng của vùng để đầu tư trước. Cụ thể, Bộ Giao thông vận tải sẽ phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên rà soát lại quy hoạch, danh mục các dự án đầu tư, cân đối nguồn vốn trên cơ sở tập trung ưu tiên cho các dự án thật sự cần thiết. Các địa phương trong vùng cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với chiến lược phát triển ngành, cũng như chú trọng ưu tiên vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông.
Ngoài ra, các tỉnh thành Tây Nguyên cần tập trung phát triển nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo nghề cho thanh niên, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng; tăng cường đầu tư ngân sách cho các trường đại học, cao đẳng và trung cấp nghề. Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, định hướng đến năm 2015, tổng số nhân lực làm việc trong nền kinh tế của vùng Tây Nguyên khoảng 3,2 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm giai đoạn này khoảng 9%/năm và đạt hơn 1,3 triệu người vào năm 2015, tăng 900 ngàn người so với năm 2010.
Phát huy truyền thống của vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa với thế mạnh và tiềm năng sẵn có, Tây Nguyên đã và đang đổi thay, khởi sắc từng ngày với những thời cơ và thách thức mới nhằm xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, vững về chính trị, mạnh về quốc phòng an ninh, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước trong giai đoạn phát triển mới./.
Thanh - Long
|