(VEN) - Đề án Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015 tầm nhìn 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm đạt mục tiêu phát triển nhiên liệu sinh học - một dạng năng lượng mới, tái tạo để thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch truyền thống, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường. Năm 2009, sau 2 năm đề án được Chính phủ phê duyệt, bên cạnh những thành công đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục khắc phục.
Thành công bước đầu
Hiện nay, 5 tiêu chuẩn quốc gia cho nhiên liệu sinh học (NLSH) đã bước đầu được Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng và công bố. Một số các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, triển khai sản xuất thử sản phẩm phục vụ cho phát triển NLSH đã có đủ hành lang pháp lý để các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân có thể tham gia.
Theo nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Phú Cường - Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ Công Thương: “Năm 2009 chính thức đánh dấu năm ra đời của ngành công nghiệp NLSH tại Việt Nam, đặc biệt là nhóm ngành sản xuất ethanol nhiên liệu nhờ nguồn nguyên liệu sẵn có (sắn, mía). Theo kế hoạch, đến năm 2011, cả nước sẽ có 5 cơ sở sản xuất ethanol nhiên liệu với tổng công suất thiết kế khoảng 365.000 tấn/năm, đủ để pha 7,3 triệu tấn xăng E5, vượt mục tiêu của Đề án đề ra cả về số lượng và thời hạn”.
Đối với việc lựa chọn loại cây để làm nguyên liệu phát triển NLSH, Tiến sĩ Trần Văn Khởi - Trưởng phòng cây lương thực, thực phẩm - Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết: “Do đặc thù về loại cây trồng và điều kiện thực tế, trong thời gian tới, sắn, mía và cây cọc rào (hay còn gọi là cây Jatropha) sẽ là 3 loại cây trồng chủ lực cần được nghiên cứu và thử nghiệm sản phẩm chế biến NLSH”. Trong đó, cây cọc rào được đánh giá là cây trồng dễ tính, có khả năng thích nghi rộng, chịu hạn, chịu đất xấu, có thể trồng được hầu hết ở các nước nhiệt đới, á nhiệt đới. Với 1 ha cây cọc rào có thể thu hoạch được 10 tấn hạt, sản xuất ra 3 tấn diesel sinh học có chất lượng tương đương với diesel hoá thạch. Đang có khoảng 10 doanh nghiệp trong nước và 5 doanh nghiệp nước ngoài tiến hành trồng quy mô nhỏ để thăm dò hoặc đang xúc tiến xây dựng các dự án đầu tư loại cây này.
Đối với vấn đề nhân lực, theo kế hoạch, năm 2010, Bộ Công Thương dự kiến dành khoảng 450 triệu đồng để bồi dưỡng kiến thức và nâng cao năng lực quản lý nhà nước cho cán bộ quản lý cấp Bộ, ngành, các doanh nghiệp về phát triển và ứng dụng NLSH. Trong những năm tiếp theo, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai những khóa đào tạo ngắn hạn cho cán bộ khoa học công nghệ tại các nước nước có nền công nghiệp NLSH phát triển. Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng sẽ bổ sung máy móc thiết bị tiên tiến, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật cho các phòng thí nghiệm và xưởng thực nghiệm hiện có nhằm tiếp cận và chuyển giao công nghệ về sản xuất và thương mại hóa NLSH.
Nhưng…
Về cơ bản vẫn còn rất hiếm các đề tài, dự án nghiên cứu định hướng kỹ thuật nhằm nhanh chóng tạo ra sản phẩm và có tiềm năng phát triển NLSH thành một ngành công nghiệp. Đây là khó khăn rất lớn cho việc đẩy mạnh và mở rộng đề án phát triển NLSH.
Bên cạnh đó, số lượng các doanh nghiệp tham gia vào phát triển nhiên liệu sinh học còn ở mức độ hạn chế. Ngoài những thành công bước đầu của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Công ty Cổ phần Đồng Xanh thì đa số các doanh nghiệp đều phản ánh rằng việc không quy định cụ thể các hình thức tham gia và lợi ích của các bên trong lộ trình phát triển NLSH của Việt Nam là nguyên nhân dẫn tới việc nhà phân phối, người tiêu dùng, nhà sản xuất khó tham gia vào dự án. Bên cạnh đó, hiện Việt Nam còn thiếu quy định về thiết kế và kiểm định chất lượng của các trạm phân phối và lưu trữ NLSH. Thời gian tới, Nhà nước cần có những chính sách để hỗ trợ phát triển hệ thống hạ tầng phân phối cũng như đẩy mạnh kiểm định chất lượng sản phẩm.
Một vấn đề quan trọng nữa là việc xuất nhập khẩu nguyên liệu và sản phẩm NLSH. Nhiều chuyên gia cho rằng mục tiêu của phát triển NLSH là để thay thế nhiên liệu nhập khẩu. Cho nên nếu Việt Nam vẫn cho phép nhập khẩu NLSH thì chẳng khác gì thay thế nguồn nhập khẩu này bằng nguồn nhập khẩu khác nên cuối cùng vẫn không tránh khỏi phụ thuộc. Bên cạnh đó, những nguyên liệu cho sản xuất NLSH như mỡ cá, sắn hiện đang được xuất khẩu với số lượng lớn. Cho nên việc hạn chế xuất khẩu những nguyên liệu đó hay để dành cho nguyên liệu sản xuất NLSH trong nước cũng là vấn đề rất cần được quan tâm./.
Thu Hường - Kiều Nga |