Chuyển bộ gõ
“Điểm sáng” công nghiệp
Cập nhật lúc:  09:41 08/07/2010



(VEN) - Được đánh giá là điểm sáng trong bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm, ngành công nghiệp đã đánh dấu vai trò quan trọng của mình với sự tăng trưởng ấn tượng ở hầu hết các ngành hàng.

Nếu như bắt đầu quý II, tình hình sản xuất công nghiệp được dự báo gặp nhiều khó khăn do cùng với những khó khăn trước đó, tình hình cung ứng điện cũng vào giai đoạn căng thẳng. Tuy nhiên, ngành công nghiệp vẫn “ngược dòng” thành công. Thống kê cho thấy giá trị sản xuất công nghiệp tháng 6 ước đạt 66,15 nghìn tỷ đồng (giá cố định năm 1994), tăng 3% so với tháng 5 và tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung 6 tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 366,11 nghìn tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm ngoái.
Để đạt được những kết quả ấy không thể không kể đến sự đóng góp lớn của các khu vực kinh tế. Theo đó, trong 6 tháng, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giữ vững vị thế dẫn đầu với mức tăng trưởng cao nhất là 17%; tiếp theo là khu vực kinh tế ngoài nhà nước với mức tăng 12,6%; riêng khu vực kinh tế nhà nước đạt mức tăng 9,5%.
Bên cạnh đó, xét theo địa phương, có 10/14 tỉnh, thành phố công nghiệp trọng điểm có giá trị sản xuất công nghiệp tăng khá so với cùng kỳ và cao hơn mức tăng chung của toàn ngành như : Vĩnh Phúc tăng 39,6% (trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 46,2%); Phú Thọ tăng 23%; Bình Dương tăng 19%; Thanh Hoá tăng 18,9%; Hải Dương tăng 18,5% (trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 48,2%); Đồng Nai tăng 17,4%; Đà Năng tăng 17,1%; Quảng Ninh tăng 16,6%; Hải Phòng tăng 14,2%; Hà Nội tăng 13,9%.
Sáu tháng đầu năm ghi nhận sự khó khăn của hầu hết các ngành công nghiệp do tình hình thiếu điện ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất. Tuy nhiên điều đáng mừng là tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp chủ lực của nước ta vẫn đạt được những con số đáng ghi nhận.
Cụ thể, đối với ngành điện, những tháng đầu năm là những tháng khó khăn do tình hình hạn hán và nhu cầu điện tăng cao. Để đáp ứng đủ điện cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, ngành điện đã phải huy động nhiều nguồn, kể cả những nguồn chạy dầu đắt tiền. Tính chung 5 tháng đầu năm 2010, sản lượng điện chạy dầu FO (Hiệp Phước, Thủ Đức, Ô Môn, Cần Thơ) là 1,86 tỷ kWh, tua bin khí dầu DO (Cà Mau, Bà Rịa, Thủ Đức, Cần Thơ) là 330 triệu kWh (những nguồn này có giá thành sản xuất gấp từ 4-5 lần giá bán điện bình quân của EVN). Tính chung 6 tháng đầu năm, sản lượng điện sản xuất ước đạt 43,4 triệu kWh, tăng 15,5% so với cùng kỳ. Lượng điện thương phẩm đạt 40,1 triệu kWh, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Còn với ngành dầu khí, những tháng đầu năm, giá dầu tương đối ổn định, dao động ở mức 70-80 USD/thùng. Kim ngạch xuất khẩu dầu thô trong tháng 6 ước đạt 416 triệu USD, bằng 68,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Cộng chung 6 tháng ước đạt 2,59 tỷ USD, bằng 82,1% so với cùng kỳ năm ngoái (không tính phần xuất bán cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất).
Riêng với ngành than, 6 tháng đầu năm 2010, hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành than khá ổn định. Sản lượng than khai thác đạt khá, khối lượng than tiêu thụ đạt 21,6 triệu tấn, tăng 1% so với cùng kỳ, nhưng doanh thu tăng cao nhờ giá than xuất khẩu đầu năm 2010 đã tăng so với cuối năm 2009 (từ 6,5%-27,7%) và giá than bán cho các hộ tiêu thụ lớn đã được điều chỉnh tăng từ ngày 1/3/2010. Sản lượng than sạch 6 tháng đầu năm ước đạt 22 triệu tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Những tháng đầu năm, ngành công nghiệp nặng gặp nhiều khó khăn do thiếu điện sản xuất tuy nhiên vẫn có tăng trưởng. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm, sản xuất của ngành thép đã đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường. Sản lượng thép các loại trong tháng 6 ước đạt 476,9 nghìn tấn, cộng chung 6 tháng ước đạt 2,6 triệu tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ngành công nghiệp nhẹ vẫn chứng tỏ vị thế của mình trong hoạt động xuất nhập khẩu. Điểm chung của hai “đại gia” xuất khẩu trong ngành công nghiệp nhẹ: dệt may và da giày là lượng đơn hàng khá ổn định đến hết quý III. Ước 6 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may đạt 4,8 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Mỹ ước tăng 15%; Nhật Bản tăng 10%; thị trường EU tăng nhẹ. Với ngành da giày, số lượng đơn hàng đã ký kết tăng khoảng 15-20% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, với sản lượng tiêu thụ khoảng 130-140 triệu đôi/năm, doanh số ước đạt trên 1,5 tỷ USD, chiếm khoảng 30% doanh thu xuất khẩu của ngành, thị trường nội địa vẫn được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng cho các DN da giày Việt Nam khai thác trong thời gian tới.
Như vậy, 6 tháng đầu năm, dù khó khăn, ngành công nghiệp đã ghi nhận những kết quả tăng trưởng đáng ghi nhận. Đây được cho là những động thái tích cực để “tạo đà” cho những bước chạy “nước rút” trong những tháng tới./.
Phương Lan


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại