(VEN) - Chương trình “Xây dựng các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) phục vụ phát triển kinh tế nông thôn miền núi” của Thủ tướng Chính phủ sau 5 năm triển khai đã góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp và trình độ dân trí của nhân dân trên các địa bàn. Nhờ đó, diện mạo nông thôn miền núi đã có nhiều khởi sắc.
Từ những con số
Chương trình đã triển khai 286 dự án trải rộng trên 58 tỉnh, thành phố. Thông qua việc triển khai các dự án đã huy động trên 1.200 lượt cán bộ khoa học từ 68 tổ chức khoa học trong cả nước về phục vụ tại địa bàn nông thôn miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tính đến nay, chương trình đã xây dựng được 856 mô hình ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đào tạo được trên 1.666 kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn công nghệ cho trên 35.236 lượt nông dân. Đồng thời đã tổ chức 1.980 lớp tập huấn ngắn ngày về kỹ thuật sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho khoảng 60 nghìn lượt người tham dự, đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật và quản lý sản xuất cho khoảng 1.500 kỹ thuật viên và cán bộ xã trên 288 địa bàn. Các lớp đào tạo được thực hiện trước khi triển khai cũng như trong quá trình thực hiện dự án góp phần quan trọng cho sự thành công của dự án và tiếp tục duy trì, phát huy kết quả sau khi dự án kết thúc.
Nhờ vậy, nhiều dự án đã kết thúc từ vài năm trước đây nhưng các mô hình vẫn được duy trì, nhiều kỹ thuật tiến bộ được áp dụng rộng rãi ra ngoài phạm vi dự án. Các dự án về trồng trọt đã góp phần tạo nên các vùng chuyên canh nguyên liệu cho công nghiệp và sản xuất nông sản hàng hóa như vùng trồng bông, chè, thuốc lá, lúa chất lượng cao và các loại cây ăn quả khác. Các dự án này cùng với những dự án chế biến đã tạo nên sản phẩm có giá trị kinh tế cao.
Chương trình cũng đã xây dựng được tiềm lực ứng dụng KHCN cho địa phương, tăng cường cơ sở vật chất nhằm tiếp cận các công nghệ mới hiện đại. Hiện tại, gần 2/3 các tỉnh và thành phố trong cả nước có phòng nuôi cấy mô thực vật, nhà kính, vườn ươm đã đáp ứng được nhu cầu về giống đồng đều, sạch bệnh, năng suất cao cho bà con trong vùng, nhiều vùng đã chủ động về giống trong sản xuất. Hầu hết các dự án đã tạo được điểm sáng về ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất, thực sự mang lại hiệu quả kinh tế xã hội thiết thực trên các địa bàn thực hiện, góp phần cải thiện đời sống nhân dân.
Đến những điểm sáng
Suốt chiều dài từ Quảng Ninh đến Cà Mau, các dự án về thủy sản ở dải ven biển đều được áp dụng các kỹ thuật mới của cả trong và ngoài nước, góp phần phát triển mạnh mẽ nghề nuôi thủy sản, đặc biệt là vùng ven biển phía Bắc - nơi có khí hậu và thời tiết được đánh giá là không thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản. Thông qua một loạt các dự án thuộc chương trình đã góp phần khẳng định nhiều giống hải sản có thể sản xuất tại miền Bắc và cho năng suất cao, giúp giá thành hải sản hạ xuống rất nhiều. Song song đó, việc sản xuất các giống thủy sản tại miền Bắc đã góp phần phát triển một cách mạnh mẽ nghề nuôi thủy sản ở miền Bắc.
Tại Sơn La, Thái Nguyên, Sóc Trăng, các dự án phát triển sản xuất nấm đã đem lại nhiều thành công, sản xuất được 55,8 tấn giống nấm các loại, cung cấp cho nhiều mô hình trồng nấm tập trung và phân tán tại các địa phương trên địa bàn tỉnh, mở rộng thêm 108 mô hình trồng nấm. Điển hình như dự án “Xây dựng mô hình sản xuất nấm hàng hóa tại tỉnh Thái Nguyên” đã tiếp nhận và chuyển giao công nghệ sản xuất nhiều giống nấm như nấm ăn, nấm dược liệu… từ khâu sản xuất giống đến nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm với công suất 500 tấn/năm. Từ đó đã hình thành các mô hình trồng nấm tập trung và phân tán tại các địa phương trên địa bàn tỉnh, góp phần nâng cao thu nhập và giải quyết việc làm cho bà con nông dân trong thời gian nông nhàn.
Các dự án chăn nuôi bò tại Đăk Lăk, Đồng Nai, Yên Bái, Bắc Giang… đã đưa các bò đực giống Brashman, lai Sind, Zebu vào các mô hình để cải tạo đàn bò vàng địa phương. Kết quả, dự án đã giúp bà con vùng đồng bào dân tộc tiếp nhận và làm chủ công nghệ tạo đàn bò lai có năng suất và chất lượng thịt cao. Hiện nay, kết quả của dự án đang được bà con trong vùng hưởng ứng học tập và phát triển thêm hàng chục mô hình (bình quân mỗi hộ nông dân nuôi từ 60-70 con). Dự án đã tạo công ăn việc làm ổn định, đem lại lợi nhuận cao cho đồng bào vùng dân tộc.
Giúp các địa phương chuyển giao ứng dụng kỹ thuật nuôi ong, khai thác, chế biến mật ong xuất khẩu tại tỉnh Gia Lai, Bắc Giang cũng là những thành công nhất định giúp đồng bào các dân tộc trong vùng cải thiện đời sống, đưa nghề ong trở thành một ngành sản xuất hàng hóa. Hiện nay, nhiều sản phẩm mật ong của dự án đã có mặt ở một số nước thuộc EU.
Mặc dù nhiều dự án đến nay vẫn chưa kết thúc, nhưng ngay trong quá trình triển khai đã thực sự tạo được điểm sáng về ứng dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất. Điều đặc biệt quan trọng là những kết quả cụ thể của từng dự án đã tạo được niềm tin và ý thức cho người dân trong việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và cuộc sống. Cùng với các chương trình khuyến nông, khuyến ngư và khuyến công, các dự án này đã góp phần hình thành các doanh nghiệp chế biến lâm, thủy, hải sản nhỏ ở địa phương, tạo việc làm và tăng thu nhập cho hàng chục ngàn lao động ở khu vực nông thôn miền núi./.
Long Nguyễn
|