Chuyển bộ gõ
Hướng tới chi trả dịch vụ môi trường rừng: Hoàn toàn khả thi
Cập nhật lúc:  10:19 13/01/2010

(VEN) - Môi trường rừng đem lại những giá trị to lớn cho con người như: điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, cảnh quan, thẩm mỹ...Tuy nhiên, từ trước tới nay giá trị dịch vụ môi trường rừng vẫn chưa được định giá và chi trả.

 
Tại hội thảo “Định giá dịch vụ môi trường rừng để xây dựng nghị định về chi trả dịch vụ môi trường rừng” do Bộ NN&PTNT tổ chức mới đây, các chuyên gia đánh giá, việc trả phí cho dịch vụ này là rất cần thiết và hoàn toàn có thể tính toán.
PGS.TS Vương Văn Quỳnh – Trường Đại học Lâm nghiệp phân tích:Với những tầng đất tơi xốp và lớp phủ thực vật dày đậm, rừng trở thành một trong những thảm thực vật có khả năng lưu giữ phần lớn lượng nước mưa để sau đó cung cấp từ từ vào sông suối và giảm thiểu xói mòn để đất không bị cuốn trôi, bồi lấp lòng hồ và các dòng sông. Nhờ đó, rừng có tác dụng điều tiết nguồn nước và kéo dài tuổi thọ của hồ chứa nước cho các nhà máy thủy điện, hệ thống cấp nước cho nông nghiệp, sinh hoạt, nghề cá, du lịch...Giá trị điều tiết nguồn nước và bảo vệ đất của rừng đối với các nhà máy thủy điện và cơ sở cấp nước có thể được hiểu là lợi ích thu được của các cơ sở này nhờ hai khả năng trên, vì vậy việc xây dựng phương án chi trả môi trường rừng là rất cần thiết.
PGS.TS Vương Văn Quỳnh Trường Đại học Lâm nghiệp đánh giá, với cơ sở thủy điện, giá trị điều tiết nguồn nước của rừng dao động từ 11-17đ/KWh; giá trị bảo vệ đất từ 75-80đ/KWh. Với cơ sở cấp nước lần lượt là 180 và 200đ/m3 tùy theo tuổi thọ hồ.
Mức thu dự kiến từ 2 dich vụ trên ở Sơn La những năm tới có thể lên tới 400 – 800 tỷ đồng, gấp 4 – 8 lần so với mức dự kiến hiện nay (khoảng 110 tỷ).
Quá trình tiến hành nghiên cứu để xác định giá trị điều tiết nước của rừng đối với các nhà máy thủy điện và nước sinh hoạt do Trường Đại học Lâm nghiệp tiến hành đã cho ra nhiều kết quả. Cụ thể, với trường hợp ở Nhà máy thủy điện Suối Lập (Sơn La), kịch bản trong điều kiện có 14 nghìn ha rừng thì sẽ xảy ra khả năng là 4 tháng giữa mùa đông đạt 100% công suất, 4 tháng tiếp theo đạt 50% và 4 tháng giữa mùa kiệt công suất chỉ đạt 25% so với thiết kế, tổng doanh thu 1 năm là 21 tỷ đồng. Còn với kịch bản không có rừng, tổng doanh thu chỉ đạt 15,75 tỷ đồng. Theo các phương pháp tính toán của nhóm nghiên cứu đưa ra, giá trị điều tiết của rừng đối với nhà máy thủy điện này là khoảng 17đồng/kWh.
Thực hiện cách tính tương tự, Nhà máy thủy điện Sơn La với tổng diện tích lưu vực là hơn 1 triệu ha thì giá trị điều tiết nguồn nước là 11,3đồng/KWh. Ở Nhà máy thủy điện Hòa Bình, tổng diện tích lưu vực trên 2,6 triệu ha, do đặc thù có cả giá trị điều tiết nguồn nước (17,2đ/KWh) và bảo vệ đất (75 - 80đ/KWh) nên tổng giá trị điều tiết của rừng khoảng 90đ/KWh (chiếm khoảng 15% giá bán điện). Theo các chuyên gia của chương trình Bảo tồn Đa dạng sinh học khu vực châu Á, các giá trị môi trường rừng không chỉ tuỳ thuộc vào loại rừng mà còn phụ thuộc vào mức độ phát triển của các hoạt động kinh tế cộng đồng do đó cần xác định giá trị môi trường của rừng theo từng nơi cụ thể để có cơ sở tính toán việc chi trả dịch vụ một cách chính xác và hợp lí.
Nhiều ý kiến đóng góp, để xây dựng thành chính sách áp dụng cho phạm vi rộng với nhiều đối tượng trong những hoàn cảnh kinh tế xã hội khác nhau cần có điều kiện nghiên cứu nhiều hơn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia trước mắt nên áp dụng mức thu tiền dịch vụ điều tiết nguồn nước và bảo vệ đất của rừng đối với doanh nghiệp thủy điện là 50% và đối với doanh nghiệp cấp nước là 70% giá trị nguồn nước và bảo vệ đất (khu vực Tây Bắc). Cụ thể là áp dụng 40đ/KWh điện và 100đ/m3 nước (tương đương với 6,6% giá bán điện và 3,3% giá bán nước hiện tại). Về lâu dài, nên áp dụng mức thu tiền dịch vụ môi trường rừng theo tỷ lệ phần trăm giá bán điện, nước để tránh phải ấn định lại mức thu do trượt giá.
Kết quả những đợt khảo sát cho thấy, phần lớn người dân đã có nhận thức rõ về giá trị và ý nghĩa dịch vụ môi trường rừng với sự phát triển bền vững của đất nước. Do vậy, cả người dân và doanh nghiệp đều sẵn sàng chi trả giá trị dịch vụ môi trường rừng tùy theo mức sử dụng của từng đối tượng. “Cần xem xét xác định và lượng hóa các dịch vụ môi trường rừng, cũng như đối tượng được hưởng lợi (người sử dụng, cung cấp) để từ đó xây dựng cơ chế chi trả và hoàn thiện các vấn đề thể chế, chính sách đảm bảo nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng được sử dụng và tái đầu tư đúng hướng.” - ông Vũ Tấn Phương – Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam đề xuất./.
Hữu Oanh – N.T.Dũng
 
 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại