Chuyển bộ gõ
Khai thác bể than đồng bằng sông Hồng: Chú trọng yếu tố môi trường
Cập nhật lúc:  07:35 13/01/2010



(VEN) - Trong đề án đưa bể than sông Hồng vào khai thác, công nghệ được lựa chọn sẽ là công nghệ đảm bảo chống sụt lún và ảnh hưởng đến mạch nước ngầm.

Tiềm năng lớn
Theo kết quả điều tra, hiện bể than đồng bằng sông Hồng có phạm vi phân bố chủ yếu thuộc các tỉnh: Hưng Yên, Thái Bình, một phần tỉnh Nam Định, trong đó 90% tập trung tại tỉnh Thái Bình; 8,5% tập trung tại Hưng Yên; 1,5% tập trung tại Nam Định. Trữ lượng than hiện vào khoảng 210 tỷ tấn. Diện tích chứa than chung toàn vùng khoảng 2.500 km2. Độ sâu của các vỉ than từ khoảng –150m đến –2.500m.
Theo Tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV), vỉa than đồng bằng sông Hồng có trữ lượng tài nguyên rất lớn, phân bố tương đối đồng đều trên một diện tích tương đối lớn, dễ tiếp cận và gần các điểm tiêu thụ lớn. Bên cạnh đó, các vỉa than đều thuộc loại thoải, có góc dốc nhỏ, rất phù hợp cho việc áp dụng cơ giới hóa khai thác. Ngoài ra, than vùng đồng bằng sông Hồng thuộc loại than năng lượng – than á – bitum, khá đồng nhất về thành phần vật chất cũng như các tính chất hóa học, công nghệ. Than có hàm lượng chất bốc cao (trên 40%), ít lưu huỳnh (khoảng 0,5%), độ tro thấp, nhiệt lượng tương đối cao (khoảng 5.500-6.000 kcal/kg). Những tính chất này rất có lợi cho công nghệ chế biến, hóa chất, làm nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện, xi măng.
Về mặt kinh tế, chương trình phát triển bể than sông Hồng sẽ góp phần giảm đáng kể nhu cầu nhập than cho phát điện và tăng GDP cho các địa phương có dự án. Cụ thể, khi bể than đồng bằng sông Hồng đi vào khai thác, hàng năm có thể đóng góp cho nền kinh tế từ 8-13 triệu tấn than và 11 tỷ m3 khí/năm hoặc 1,745 triệu thùng diesel/năm.
Không chỉ vậy, về lâu dài, dự án được kỳ vọng sẽ góp phần phá thế thuần nông của các địa phương này, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế và góp phần thúc đẩy các ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ phát triển. Hơn nữa, nếu thực hiện khí hóa than ngầm thành công, bể than sông Hồng sẽ mở ra một ngành công nghiệp mới cho đất nước, đó là sản xuất dầu diesel từ than.
Công nghệ chống sụt lún và ảnh hưởng mạch nước ngầm
Mặc dù có trữ lượng và chất lượng khá tốt nhưng do đặc điểm là bề mặt thuộc vùng đồng bằng trồng lúa nước, có mật độ dân cư lớn… cho nên để đi vào khai thác, cần có những tính toán chính xác. Theo đó, công nghệ chính dự kiến được lựa chọn áp dụng cho việc phát triển bể than đồng bằng sông Hồng là khai thác hầm lò và khí hóa than. Những công nghệ này được lựa chọn nhằm đáp ứng yêu cầu chống lún sụt bề mặt và không ảnh hưởng đến mạch nước ngầm.
Ông Nguyễn Thanh Sơn – Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng – đơn vị thực hiện dự án cho biết: “Để chống sụt lún, chúng tôi sẽ chọn nơi khai thác ở độ sâu tối ưu dưới 200m, khai thác theo trình tự vỉa than. Đồng thời, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp chèn lò đã được sử dụng và thành công trên thế giới, tức là chúng tôi sẽ bơm cát xuống các vùng “lõm” để chống sụt lún. Còn về nước ngầm, do tầng than bên dưới có rất ít nước, nước chỉ tập trung ở tầng đệ tứ bên trên nên sẽ không ảnh hưởng”.
Trong kế hoạch đưa bể than đồng bằng sông Hồng vào khai thác, các nhà đầu tư đã đưa ra những định hướng phát triển như: Không áp dụng công nghệ khai thác than lộ thiên. Bên cạnh đó, việc khai thác phải hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực của việc khai thác than đến môi trường kinh tế xã hội trên địa bàn và về cơ bản phải bảo toàn các khu dân cư, các công trình công nghiệp trên mặt đất và không gây các hiệu ứng lún sụt lớn trên mặt đất ảnh hưởng đến đất canh tác nông nghiệp. Đồng thời, việc phát triển ngành khai thác than phải gắn với việc phát triển các ngành công nghiệp chế biến than và các hộ sử dụng sản phẩm của than (như các nhà máy nhiệt điện chạy than, khí than, các nhà máy chế biến than, khí thu được từ than thành dầu diesel…). Ngoài ra, kỹ thuật được áp dụng để khai thác vùng than này phải là kỹ thuật tiên tiến, hiện đại của thế giới để đảm bảo an toàn trước hết cho người lao động, thân thiện với môi trường, ít ảnh hưởng đến tập quán canh tác lúa nước và sản xuất nông nghiệp trong vùng đồng bằng sông Hồng./.  
Dự kiến, chương trình phát triển bể than sông Hồng sẽ chia thành hai giai đoạn chính: Giai đoạn 1 sẽ thử nghiệm các loại hình công nghệ khác nhau có triển vọng khả thi nhất gồm: Khai thác hầm lò phần nông (-450/-600m); Khai thác hầm lò phần dưới sâu (-600/-1.200m); Khí hóa than vỉa mỏng – vừa nằm nông (-300/-450m); Khí hóa than vỉa mỏng – vừa và dầy nằm sâu (-450/-900m); Thăm dò bổ sung vùng than Khoái Châu và các vùng than còn lại.
Giai đoạn 2 sẽ căn cứ kết quả thử nghiệm của giai đoạn 1 để lựa chọn loại hình công nghệ hợp lý. Trên cơ sở kết quả thăm dò địa chất chính thức sẽ tập trung phát triển các mỏ với các công nghệ đã được thử nghiệm thành công với quy mô và số lượng phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu than của nền kinh tế.
Việc thử nghiệm các loại hình công nghệ được thực hiện từ nay đến năm 2015.
Phương Lan


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại