(VEN) - Hệ thống giao thông từng bước được hoàn thiện, thông suốt, môi trường đầu tư tại các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL hay còn gọi là vùng Tây Nam bộ) ngày càng được cải thiện và nâng cao. Công tác liên kết nối kết giữa các địa phương trong khu vực và liên kết ngoại vùng được các địa phương quan tâm đã mở ra nhiều cơ hội hợp tác phát triển kinh tế đối ngoại khu vực ĐBSCL hướng đến một vùng kinh tế mở, năng động, bền vững và hội nhập.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ năm 1988-2010, ĐBSCL đã thu hút 657 dự án FDI với số vốn đăng ký 9.890,9 triệu USD và vốn thực hiện được gần 30% (chỉ tính phần vốn còn hiệu lực), bằng 4,8% tổng số dự án FDI so cả nước, bằng 4,6% số vốn đăng ký trên cả nước và bằng 5% đầu tư xã hội của vùng. Riêng trong giai đoạn 2006-2010, vùng ĐBSCL thu hút được 358 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 7,61 tỷ USD.
Ngoài nguồn FDI, ĐBSCL còn là khu vực thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn như nguồn ODA và nguồn vốn viện trợ từ NGOs. Từ năm 2006 đến ngày 31/12/2010, tổng số vốn ODA đã ký kết cho các tỉnh vùng Tây Nam bộ khoảng 1.899,8 triệu USD, trong đó vốn vay khoảng 1.700 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 99 triệu USD. Các dòng vốn này ngày càng đóng góp và tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội của cả vùng. Điều này còn thể hiện tính hiệu quả của việc phân bổ vốn, vận động nguồn ODA và NGOs trong phát triển các lĩnh vực thiết yếu cho phục vụ kinh tế - xã hội của vùng ví dụ như: phát triển hạ tầng kinh tế, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, nghiên cứu và phát triển, vệ sinh môi trường và nước sạch, hỗ trợ doanh nghiệp…
Theo ông Bùi Ngọc Sương - Phó trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, xác định tầm quan trọng của hoạt động đối ngoại, các tỉnh, thành ĐBSCL đã chủ động đề xuất kết nghĩa, liên kết với địa phương nước ngoài để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về phát triển nông nghiệp, y tế, văn hóa. Như tỉnh Long An kết nghĩa với tỉnh Chungcheongnam-do (Hàn Quốc); tỉnh Vĩnh Long kết nghĩa với tỉnh Kongpongspư (Campuchia); tỉnh An Giang kết nghĩa với tỉnh Champasac (Lào), Val d’Oise (Pháp)… đặc biệt là TP.HCM trong quá trình mở rộng giao thương, hợp tác phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, chỉ số năng lực cạnh tranh tại các địa phương trong vùng ĐBSCL liên tục được cải thiện và nâng cao qua các năm. Chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của các tỉnh, thành đều nằm trong nhóm khá, tốt và rất tốt trong 3 năm qua chính là động lực cho các địa phương trong vùng tăng thu hút đầu tư nguồn vốn từ bên ngoài, nắm bắt để khơi nguồn cho hoạt động đối ngoại đạt được hiệu quả cao. Năm 2008, trong số 10 tỉnh được đánh giá có cải thiện mạnh mẽ nhất thì ĐBSCL có 4 tỉnh. Đó là các tỉnh Đồng Tháp, Bến Tre, Long An, Cà Mau. Năm 2009, khu vực ĐBSCL được xem là nổi bật trong kết quả điều tra về chỉ số năng lực cạnh tranh cả nước với 2 tỉnh ở nhóm rất tốt sau 05 năm công bố. Trong đó, Đồng Tháp vươn lên xếp hạng 4 với 68,54 điểm, Vĩnh Long là tỉnh bốn năm liền đứng đầu khu vực, xếp hạng 5 với 67,24 điểm. Đến năm 2010, khu vực ĐBSCL được đánh giá là nhóm có nhiều cải thiện trong cả nước về công tác điều hành, thể hiện qua sự thay đổi về điểm số và thứ hạng PCI của các tỉnh. Trong 13 tỉnh thành đã có 1 tỉnh nằm trong nhóm rất tốt, 8 tỉnh thành nằm trong nhóm tốt, 4 tỉnh còn lại nằm trong nhóm khá. Điều đáng ghi nhận là không có tỉnh nào nằm trong nhóm trung bình và tương đối thấp. Sự tiến bộ nhanh chóng này giúp các tỉnh thành vùng ĐBSCL “ghi điểm” đối với nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho vùng hướng đến việc mở rộng đối ngoại và hội nhập cùng cả nước.
ĐBSCL đang từng bước chuyển mình phát triển mạnh mẽ cùng cả nước với nhiều dự án trọng điểm quốc gia được triển khai thực hiện và mức đóng góp vào tổng GDP cả nước cũng tăng lên qua các năm. Trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế, nhu cầu vốn đầu tư phát triển rất lớn nhằm đảm bảo các mục tiêu đề ra. Giai đoạn 2011-2020, theo dự báo sơ bộ tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội là rất lớn, khoảng 2.700-2.850 nghìn tỷ đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách khoảng 420-450 nghìn tỷ đồng. Do đó, các địa phương trong vùng ĐBSCL cần tích cực chủ động trong các giải pháp đối ngoại, liên kết hợp tác, nhằm tận dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài trên cơ sở phát huy nội lực vùng trong phát triển.
Để đảm bảo những mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới và khơi thông cho hoạt động đối ngoại, ông Trịnh Minh Anh - Phó Chánh văn phòng Uỷ ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế nhấn mạnh, ĐBSCL cần có những giải pháp cụ thể trong liên kết, hội nhập và hợp tác kinh tế để phát triển hơn nữa trong giai đoạn tới như: Mở rộng thị trường xuất khẩu cho các mặt hàng thế mạnh của vùng ĐBSCL, đặc biệt là các mặt hàng nông nghiệp, thủy sản; Đẩy mạnh thu hút đầu tư ngoài vùng, nâng cao chất lượng các nguồn vốn FDI và đầu tư trong nước; Tiếp tục phát triển các ngành có thế mạnh, nâng cao sức cạnh tranh ngành; Tăng cường phổ biến kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là kiến thức pháp lý quốc tế.
Đồng thời, cần đảm bảo thực hiện tốt các vấn đề khác như bảo vệ môi trường để phát triển bền vững. Hoàn thiện bộ máy quản lý, phối hợp, liên kết liên vùng, liên ngành. Cần phải xác định rõ mục tiêu phát triển kinh tế đối ngoại trên từng ngành, lĩnh vực cụ thể, của từng tỉnh và của cả vùng để có thể đánh giá khách quan và thực chất hiệu quả hoạt động của các nguồn vốn đầu tư từ FDI, ODA, NGO. Nghiêm túc tự đánh giá, rà soát các hoạt động theo quý, theo năm để kịp thời phát huy và khắc phục những mặt tốt và chưa tốt trong việc thu hút, vận hành các nguồn vốn
Bên cạnh đó, theo bà Nguyễn Phương Nga - Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, cần nhận thức rõ khả năng đóng góp của kiều bào Việt Nam trong các lĩnh vực để có những chính sách hỗ trợ, hợp tác, phát triển phù hợp cho từng lĩnh vực, nhất là khoa học công nghệ, nhân lực, đào tạo. Cần tăng cường thu hút đầu tư của doanh nghiệp kiều bào, cũng như đưa được nhiều trí thức kiều bào hơn nữa về tham gia xây dựng, phát triển vùng. Các địa phương cần triển khai kịp thời các chính sách, qui định pháp luật đối với người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) như chế độ đãi ngộ, nhà đất, đầu tư... Kiên quyết loại bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết, xoá bỏ các rào cản, thực hiện cơ chế "một cửa" trong giải quyết các thủ tục hành chính đối với NVNONN. Cần tăng cường vận động qua các kênh (hội liên lạc, hội đồng hương...), có chế độ đãi ngộ, hỗ trợ để thu hút chuyên gia, trí thức NVNONN phù hợp về làm việc tại vùng. Xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nhân và trí thức NVNONN tại vùng ĐBSCL để tăng cường vận động và phục vụ công tác nghiên cứu, xây dựng chính sách cũng là một vấn đề cấp thiết để thực sự có thể khiến kiều bào ta có những đóng góp thiết thực, tham gia xây dựng và phát triển vùng…/.
Lê Anh
|