(VEN) - Đó là nhận định của các chuyên gia kinh tế trong hội thảo “Chính sách kinh tế sau khủng hoảng và phát triển thị trường vốn” ngày 27/9 tại Hà Nội.
Theo ông Vũ Như Thăng, Viện trưởng Viện Chiến lược và chính sách – Bộ Tài chính, là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam bước vào thế kỷ 21 với việc tiếp tục thực hiện chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy kinh tế nhanh và bền vững, tích cực mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, trong đó nổi bật là việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007.
Đây cũng là giai đoạn mà nền kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt và giải quyết không ít khó khăn do các biến động bất lợi của tình hình kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế trước sự xuất hiện và lan rộng của khủng hoảng kinh tế - tài chính năm 2008, đặc biệt là sự sụt giảm về xuất khẩu và các nguồn vốn từ bên ngoài.
Theo ông Thăng, trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam đã chủ động đưa ra nhiều biện pháp quyết liệt để khôi phục lại đà tăng trưởng kinh tế như việc đưa ra gói kích thích kinh tế, cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh, hạn chế nhập siêu, chú trọng an sinh xã hội, tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước… Nhờ đó, nền kinh tế Việt Nam duy trì được nhịp độ tăng trưởng bình quân 2006-2010 khoảng 6,8-7%, và khơi thông các nguồn vốn trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển kinh tế với tổng mức đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2006-2010 đạt gần 43% GDP.
Theo ông Paul Gruenwald, Kinh tế trưởng Khu vực châu Á của Ngân hàng ANZ, kinh tế Việt Nam đã phục hồi, trong đó sản xuất công nghiệp tăng mạnh, sản phẩm đầu ra trong lĩnh vực may mặc đang tăng và cùng với đó là đà phục hồi tốt của lĩnh vực điện tử. Nhìn chung, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể đạt 6% hoặc 6,5% trong năm 2010.
Vẫn nhiều thách thức
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều thách thức, đặc biệt là trong hoạt động phát triển thị trường vốn.
Cụ thể, cơ cấu kinh tế của Việt Nam vẫn chậm chuyển dịch, tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng trong GDP giai đoạn 2006-2010 chỉ đạt khoảng 41%; thâm hụt thương mại gia tăng và chiếm khoảng 20% kim ngạch xuất khẩu; mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào vốn đã bộc lộ hạn chế, tỷ lệ huy động vốn toàn xã hội có xu hướng cao hơn tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế; tỷ lệ động viên vào ngân sách Nhà nước khá cao nhưng bội chi vẫn còn lớn, chiếm khoảng 5,7% GDP do phải đáp ứng nhu cầu chi để thực hiện các giải pháp kích thích kinh tế vào năm 2009 và 2010.
Ngoài ra, đầu tư nước ngoài có những dấu hiệu bất ổn, nhất là một số dự án chậm triển khai, số lượng dự án đầu tư vào các ngành công nghiệp và công nghệ cao chưa đạt như kỳ vọng; sức ép về tỷ giá gia tăng, và lãi suất vẫn là gánh nặng cho chi phí sản xuất của các doanh nghiệp; huy động vốn qua thị trường chứng khoán và quá trình tiếp cận thị trường vốn quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam còn khó khăn.
Góp “tiếng nói” cho tăng trưởng kinh tế
Trước những thách thức kể trên, tại Hội thảo lần này, các chuyên gia kinh tế cũng đã tập trung thảo luận nhằm đưa ra những giải pháp đóng góp cho sự tăng trưởng bền vững của kinh tế Việt Nam.
Theo đó, về chính sách tiền tệ, Việt Nam cần xem xét lại khung khổ của chính sách tiền tệ nhằm giảm lạm phát dự tính, phù hợp với chế độ tỷ giá hối đoái; giảm lãi suất, duy trì mức lạm phát thấp và tăng cường vai trò của thị trường mở trong điều chỉnh cung tiền, ngăn chặn việc cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh; hướng tới một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn.
Về chính sách tài khoá, cắt giảm thâm hụt ngân sách bằng cách mở rộng cơ sở nộp thuế, cải cách hệ thống an sinh xã hội theo hướng khuyến khích sự tham gia của toàn dân, cắt giảm đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn Nhà nước và khuyến khích tư nhân tham gia thay thế; phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ trong điều tiết kinh tế vĩ mô.
Cùng với đó là việc giám sát chặt chẽ hệ thống tài chính, theo dõi chặt chẽ diễn biến của thị trường tài sản (thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản) để đề phòng nguy cơ bong bóng giá tài sản; chú ý các luồng vốn vào (nhất là trong bối cảnh những năm gần đây, cán cân thanh toán biến động mạnh); đảm bảo hệ thống ngân hàng an toàn và vững chắc; Bình ổn giá những mặt hàng quan trọng, ngăn chặn việc tăng giá độc quyền; cải cách doanh nghiệp Nhà nước…/.
Hùng Cường |