(VEN) - Nghề rèn là công việc khá nặng nhọc, thường xuyên phải tiếp xúc với kim loại, lửa lò, máy mài... nên rất dễ xảy ra tai nạn nếu bất cẩn.
Và thực tế có rất nhiều người dân ở làng rèn Đa Sỹ (Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội) đã gặp phải. Câu chuyện về “an toàn vệ sinh lao động” dường như vẫn còn khá “mơ hồ” ở nơi đây...
Đa Sỹ là làng nghề có truyền thống khá lâu đời, hơn 400 trăm năm với nhiều sản phẩm khá đa dạng như: cuốc, xẻng, thuổng, đục, dao, kéo... Thời kỳ cách mạng, Đa Sỹ là nơi chuyên sản xuất và cung cấp giáo mác, dao kéo, quân dụng phục vụ chiến đấu. Hiện nay, Đa Sỹ có khoảng 900 hộ dân làm nghề rèn, sản phẩm tập trung vào hai mặt hàng chính là dao, kéo các loại. Làng Đa Sỹ tự hào rằng: "Từ mũi Cà Mau tới địa đầu Móng Cái đâu đâu cũng có dao, kéo của làng. Tiếng lành đồn xa, người Lào, người Campuchia cũng tìm về tận Đa Sỹ để mua hàng". Cũng bởi vậy, hàng trăm năm nay, trong làng không lúc nào ngớt tiếng đe, tiếng búa, tiếng xe...
Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích kinh tế, nghề rèn cũng có những ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe người dân, rất dễ xảy ra tai nạn nếu bất cẩn. Khi những sản phẩm thô như dao, kéo, cuốc, xẻng... đã qua giai đoạn làm phôi, nung, đập, tôi xong thì đến giai đoạn mài lưỡi cho sắc. Khi mài trên máy, rất nhiều mạt sắt đỏ rực bắn ra xung quanh, bám vào da thịt gây bỏng rát, thậm chí mù mắt. Thế nhưng, đi vòng quanh làng, nhà nhà đều thấy máy mài chạy rè rè nhưng hiếm thấy người nào mặc quần áo bảo hộ cẩn thận. Rất nhiều người còn mặc quần đùi, áo ba lỗ, đi chân đất ngồi mài. Thi thoảng mới có người đeo kính bảo hộ. Anh Nguyễn Văn Quang vừa đánh vảy sắt cho dao vừa cười bảo: “Lúc đầu bị vảy sắt bắn vào chân tay, mặt thì rất rát nhưng lâu ngày thành quen, bây giờ da bị chai lỳ rồi có bắn vào cũng chẳng hề gì”.
Đa số họ đều cho rằng việc mặc quần áo, đeo kính bảo hộ vướng víu, ảnh hưởng tới năng suất. Hơn nữa để sắm một lúc bộ quần áo, găng tay, ủng, kính bảo hộ phải mất một khoản tiền lớn trong khi thu nhập từ nghề rèn không được bao nhiêu nên họ rất “ngại”.
Chúng tôi vào thăm xưởng sản xuất của anh Nguyễn Văn Tuấn, một hộ gia đình sản xuất lớn của làng, đa số công nhân cũng không dùng đồ bảo hộ. Quanh xưởng, những hình ảnh bắt gặp khiến chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng. Chiếc máy mài nối điện trực tiếp với mô-tơ, dây điện lòng thòng dưới đất trong khi nhiều người vẫn đi chân đất làm việc mà không lường hết nguy cơ bị điện giật; hay những đôi dép cao su mỏng dính bị mòn do thời gian không thể giúp người dân tránh bị bỏng giữa đống sản phẩm nóng rực vừa mới “ra lò”... Ông Lê Thanh Hiến, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề rèn Đa Sỹbùi ngùi: “Hiện nay hơn 70% thu nhập của người dân trong làng là từ nghề rèn. Do là làm nghề truyền thống của cha ông để lại nên nhiều người cho rằng đã làm thì phải “sinh nghề tử nghiệp” nên tai nạn không thể tránh khỏi”.
Một điểm nữa cũng đáng lưu ý, đó là gặp tại nạn lao động nhưng rất ít khi người dân tìm đến trạm y tế để được hỗ trợ sơ cứu. Họ thường chủ quan tự chữa theo cách “gia truyền”, dân gian như: bị bỏng thì bôi kem đánh răng, nhựa chuối hay mỡ trăn; bị mạt sắt bay vào mắt thì ngâm mắt vào nước lạnh rồi tra thuốc... Chỉ khi nào bị tai nạn nghiêm trọng như gãy chân, gãy tay, bỏng nặng thì người dân mới tìm đến trạm y tế để chữa, do đó trạm không thể nắm hết tỷ lệ bị tai nạn lao động là bao nhiêu, có trường hợp đến muộn khả năng chữa lành không cao. Ông Lê Trọng Liệt, Trưởng Trạm Y tế phường Kiến Hưng cho biết: “Tai nạn lao động thường gặp ở làng rèn Đa Sỹ liên quan đến các bệnh về da liễu, tai, mắt. Hơn nữa, do đặc thù của nghề rèn, người lao động thường xuyên tiếp xúc với lò than nên cũng dễ mắc các bệnh về đường hô hấp. Nếu người dân không chủ động phòng tránh thì việc mắc các bệnh ung thu da, hỏng mắt, giảm thính lực, viêm phổi, viêm phế quản là chuyện “một sớm một chiều””.
Một phần do thái độ chủ quan của người dân, song tình trạng trên cũng phản ánh công tác tuyên truyền vận động các hộ sản xuất thực hiện an toàn lao động còn nhiều hạn chế. Trên thực tế, Hiệp hội Làng nghề cũng chưa có nhiều dịp tuyên truyền sâu rộng tới người dân. Ông Lê Thanh Hiến cho biết: “Tính ra mỗi năm cũng chỉ tuyên truyền được vài ba lần, chỉ đến ngày giỗ tổ làng nghề, ngày hội làng hay tổng kết cuối năm, còn trách nhiệm tự giác ở phía các hộ gia đình là chủ yếu”. Ông Nguyễn Văn Tuấn, thành viên Ban chấp hành hiệp hội cũng thừa nhận “Hiệp hội mang tính tinh thần nhiều hơn”.
Kiến Hưng mới được chuyển đổi cấp hành chính từ xã lên phường vào đầu tháng 7/2009 theo Quyết định số 19 của Chính phủ. Cùng với việc phát triển hạ tầng cơ sở, đẩy nhanh tiến độ đô thị hóa thì việc bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống cũng đặt ra yêu cầu bức thiết. Bà Hoàng Lệ Xuân, Phó Chủ tịch UBND phường Kiến Hưng cho biết: “Đa Sỹ là một trong những làng nghề tiêu biểu, có truyền thống lâu đời của xã, do vậy chúng tôi cũng đang cố gắng duy trì và bảo tồn làng nghề”.
Muốn bảo tồn và phát triển làng nghề bền vững thì tuyên truyền thực hiện an toàn lao động là một trong những công tác rất quan trọng. Trên thực tế muốn cho công tác này đạt hiệu quả cao thì cần phải tuyên truyền sâu rộng một cách thường xuyên, dưới nhiều hình thức đến từng hộ gia đình, giúp cho người dân hiểu rõ hơn tác hại tiềm ẩn về sức khỏe, tránh những tai nạn đáng tiếc xảy ra./.
Quỳnh Nga |