Chuyển bộ gõ
Loay hoay ngay trên sân nhà
Cập nhật lúc:  09:39 01/09/2010



(VEN) - Mặc dù có mức tăng trưởng cao trong 10 năm trở lại đây nhưng ngành dược Việt Nam vẫn bị đánh giá là phát triển tự phát và manh mún, chưa tương xứng với yêu cầu thực tế trong nước.

Để nâng cao tính tự chủ cho ngành, hạn chế phụ thuộc vào các nhà nhập khẩu và phân phối, ngay từ bây giờ cộng đồng các DN dược cần xây dựng được một chiến lược và tầm nhìn xa hơn...
Tăng cao nhưng chưa tự chủ
Theo Bộ Y tế, thị trường dược phẩm Việt Nam luôn có tốc độ tăng trưởng cao những năm gần đây, bình quân 20%/năm. Dự kiến thị trường dược phẩm sẽ đạt mức 2 tỷ USD vào năm 2011 và 2,3 tỷ USD vào năm 2013.
Trong khi đó, thị trường dược phẩm các nước ASEAN chỉ vào khoảng 9 tỷ USD, với mức độ tăng trưởng chung là 13%. Điều này cho thấy thị trường dược phẩm Việt Nam là một trong những thị trường hấp dẫn nhất khu vực và có mức tăng trưởng mạnh nhất.
Hơn nữa, tiền thuốc sử dụng trên đầu người hàng năm ở nước ta cũng tăng mạnh, nếu như năm 2005 chỉ là 7,5 USD/người/năm thì tới năm 2009 đã lên tới 19,77 USD và dự kiến năm 2010 là 18,8 USD, đến năm 2014 là 38,8 USD.
Tuy nhiên, theo tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương: mặc dù tăng trưởng cao nhưng ngành dược Việt Nam vẫn phát triển tự phát, phân tán, manh mún. Chưa tự chủ được nguồn thuốc sản xuất trong nước để đáp ứng được nhu cầu về thuốc chữa bệnh cho nhân dân, mới đảm bảo cung ứng được khoảng 50% nhu cầu sử dụng và mới đáp ứng được khoảng 652 hoạt chất so với 1563 hoạt chất đang lưư thông trên thị trường.
Trên 90% nguyên liệu sử dụng cho sản xuất thuốc vẫn phải nhập khẩu. Thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là các thuốc gốc có giá trị thấp, khả năng cạnh tranh yếu. Các DN dược chưa chú trọng đầu tư sản xuất các loại thuốc chuyên khoa, đặc trị hay các dạng bào chế đặc biệt.
Điều này được thể hiện qua các con số: 51% dây chuyền sản xuất dược ở nước ta hiện nay là sản xuất thuốc viên thông thường; 15% dây chuyền sản xuất thuốc kem, mỡ, dùng ngoài; 10% sản xuất thuốc nang mềm; 8% sản xuất thuốc nước; 7% sản xuất thuốc tiêm; 5% sản xuất thuốc nhỏ mắt và 4% sản xuất dịch truyền.
Chậm chuyển đổi
TS. Võ Trí Thành cho biết: ngành dược hiện chưa dự báo được nhu cầu sử dụng thuốc một cách đầy đủ và chính xác, do vậy chưa chủ động được trong việc đảm bảo cung ứng thuốc. Quy hoạch phát triển công nghiệp dược trong nước chưa được xây dựng kịp thời với sự chuyển đổi của thị trường dược phẩm. Chưa có cơ chế rõ ràng để khuyến khích đầu tư sản xuất và khuyến khích sử dụng thuốc trong nước.
Đồng thời, chiến lược phát triển nguồn nhân lực dược cũng chưa được quan đầy đủ để đáp ứng nhu cầu về nhân sự trong tình hình mới. Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp thời trước đòi hỏi của thị trường dược phẩm ngày càng đa dạng, phức tạp, cần phải được quản lý thống nhất và đồng bộ ở tầm vĩ mô lẫn vi mô. Việc bổ sung và điều tiết nguồn nhân lực giữa các tuyến y tế còn nhiều điểm bất hợp lý.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn việc quản lý giá thuốc chưa được ban hành đồng bộ và kịp thời. Các cơ chế chính sách và nguồn lực cần thiết để quản lý giá thuốc chưa được chuẩn bị đầy đủ dẫn đến tình trạng bị động của các cơ quan chức năng trong việc quản lý giá thuốc trên thị trường. Có biểu hiện lạm dụng độc quyền và liên kết độc quyền trong việc nhập khẩu, cung ứng thuốc đặc trị của một số công ty trong nước và công ty nước ngoài để không chế và áp đặt giá quá cao trên thị trường.
Bên cạnh đó, bản thân các DN dược Việt Nam cũng chưa thực sự cố gắng để tự đứng trên đôi chân của mình. Trong tổng số 174 cơ sở sản xuất thuốc tân dược hiện nay, mới chỉ có 41 cơ sở đạt GMP - ASEAN (thực hành tốt sản xuất thuốc) và 23 DN đạt GMP- WHO, còn lại các DN vẫn đang trong quá trình chuyển động rất chậm chạp.
Do vậy, ông Thành cho rằng cần cải thiện môi trường pháp lý, xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách để hỗ trợ cho các DN nhằm nâng cao sức cạnh tranh. Các DN dược Việt Nam cũng cần phải thay đổi tư duy đầu tư, xây dựng một chiến lược đầu tư trong sản xuất dược phẩm lâu dài và căn bản để có thể phát triển một cách bền vững như tập trung đầu tư vào công nghệ thông tin, công nghệ phân phối... tránh việc chạy theo lợi nhuận trước mắt để đầu tư sẽ gây đầu tư dàn trải và lãng phí, hiệu quả kinh tế không cao. Tập trung đầu tư vào những mặt hàng chuyên khoa, đặc trị, các dạng bào chế đặc biệt đối với các mặt hàng có tỷ trọng sử dụng cao những vẫn phải nhập khẩu.
Tranh thủ thu hút đầu tư của các đối tác trong và ngoài nước thông qua các hình thức: hợp đồng, hợp tác kinh doanh; liên doanh liên kết; sản xuất gia công nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Đẩy mạnh liên doanh liên kết, tránh tư tưởng “mạnh ai... nấy chạy” không vì lợi ích chung của các ngành, phát triển một cách tự phát, thiếu định hướng chung. Đồng thời, nâng cao năng lực quản trị kinh doanh, phát triển nhân lực, khai thác thông tin, phát triển cơ cấu sản phẩm và mở rộng thị phần, thay đổi chiến lược tiếp thị sản phẩm, xây dựng và quảng bá thương hiệu.../.
Quỳnh Nga


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại