(VEN) - Đó là nhận xét của ông Hoàng Thọ Xuân - Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) với phóng viên báo Kinh tế Việt Nam về tốc độ tăng trưởng của thị trường nội địa trong năm qua.
Khẳng định được vai trò...
Theo lãnh đạo Vụ Thị trường trong nước (TTTN), năm 2009 tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ và xã hội liên tục tăng qua các tháng. Cụ thể, từ tháng 3 đến tháng 8 tăng trung bình 2%, sau đó tiếp tục tăng mạnh vào các tháng cuối năm. Cụ thể, tháng 10/2009 tăng 5,4%; tháng 11/2009 tăng 6,7%. Ước cả năm 2009 tổng doanh thu bán lẻ đạt 1.197.480 tỷ đồng, tăng 18,6% so với năm 2008.
Với mức tăng này, Bộ Công Thương cho rằng: Đây là mức tăng trưởng khá ấn tượng trong bối cảnh nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô sụt giảm, điều đó đã khẳng định vai trò và vị trí quan trọng của thị trường trong nước trong việc nỗ lực ngăn chặn suy giảm kinh tế. Mặt khác, cũng phản ánh hiệu quả các gói giải pháp kích thích kinh tế và các chương trình kích cầu nội địa của Chính phủ đối với thị trường.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2009 tăng 6,88% so với năm 2008. Đây được đánh giá là mức tăng thấp hơn nhiều so với kế hoạch ban đầu đặt ra là 15%, cũng như so với mục tiêu đã được điều chỉnh dưới mức 10%.
Nhóm có mức tăng cao nhất là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng, tăng 12,58% do tác dụng của việc tăng giá điện, giá nhà đất và tiền thuê nhà, chất đốt và một số vật liệu xây dựng có nguồn gốc nhập khẩu. Tiếp đến là nhóm giao thông tăng 12,45% do tác động của việc tăng giá xăng dầu, tăng cước vận tải và giá của nhiều loại xe nhập khẩu tăng (do tỷ giá tăng), nhóm hàng hoá dịch vụ khác tăng 11,25% do một số loại phí, dịch vụ và nhiều hàng hoá đồ dùng gia đình tăng.
Tuy nhiên, Vụ TTTN cho rằng: Mặc dù giá một số mặt hàng tăng cao, nhưng nhìn chung chỉ số giá tiêu dùng năm 2009 vẫn tương đối thấp. Sở dĩ như vậy vì nhóm có tỷ trọng cao nhất là hàng ăn và dịch vụ ăn uống chỉ tăng 5,78% do giá lương thực tương đối ổn định và mới chỉ tăng cao trong 2 tháng cuối năm (năm 2009 tăng 7,54% so với mức 43,25% của năm 2008 và trên 14% trong 2 năm 2006 và 2007), giá thực phẩm năm 2009 cũng tăng không cao, chỉ ở mức 4,29%. Đây là con số khá thấp so với mức tăng 26,53% của năm 2008 và 21,78% của năm 2007.
Mặc dù, năm 2009 có nhiều yếu tố gây lo ngại về khả năng tái lạm phát cao do chính sách nới lỏng tiền tệ, việc tăng cung tiền ra lưu thông khi triển khai các gói kích cầu, việc thực hiện lộ trình giá thị trường đối với một số hàng hoá, dịch vụ quan trọng (than, điện, nước,...), tăng lương tối thiểu từ 1/5 (từ 540.000đ/ tháng lên 650.000đ/ tháng), tác động của thiên tai dịch bệnh, biến động về tỷ giá,... nhưng giá cả hàng hoá trên thị trường nhìn chung ổn định, không có biến động lớn, không có hiện tượng sốt giá do thiếu hàng.
Hiệu quả đến từ các gói kích thích
Theo ông Xuân, thị trường trong nước năm 2009 không có biến động mạnh, hàng hoá dồi dào một phần do mặt bằng giá thế giới trong năm ở mức thấp, nhất là đối với một số nguyên liệu vật tư thiết yếu như: xăng dầu, phôi thép, phân bón,...
Bên cạnh đó còn do các gói kích thích kinh tế của Chính phủ đã phát huy hiệu quả. Cụ thể, năm 2009, trước những diễn biến phức tạp của nền kinh tế thế giới tác động tới kinh tế trong nước, Chính phủ đã kịp thời ban hành và chỉ đạo các Bộ, ngành thực hiện nhiều cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể và quyết liệt nhằm duy trì tốc độ phát triển kinh tế. Phần lớn các giải pháp tập trung chủ yếu vào các biện pháp khuyến khích đầu tư cho doanh nghiệp và kích thích tiêu dùng nội địa, bao gồm: Trợ cấp người nghèo ăn tết, tăng lương, hỗ trợ lao động mất việc làm; hỗ trợ lãi suất tín dụng; miễn giảm, giãn một số loại thuế, phí, tăng hoàn thuế; hỗ trợ kỹ thuật,...
Các gói kích thích kinh tế nói chung, đặc biệt là thông qua cơ chế hỗ trợ lãi suất nói riêng (Quyết định 131/QĐ-TTg ngày 23/1/2009 về cho vay hỗ trợ lãi suất ngắn hạn; Quyết định số 443/QĐ-TTg ngày 04/4/2009 về việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn để thực hiện đầu tư mới phát triển sản xuất kinh doanh; Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 về hỗ trợ lãi suất vay vốn máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn... ) đã phát huy tác dụng, mang lại hiệu quả thiết thực, giúp các đối tượng được vay vốn khắc phục được khó khăn về tài chính, nguồn vốn để duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh, giảm chi phí kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh và đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá. Đồng thời, góp phần gia tăng các hoạt động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, tạo nền tảng và động lực cho tái cấu trúc kinh tế xã hội, duy trì và tạo việc làm cho người lao động, qua đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Bên cạnh đó, chính sách kích thích kinh tế cũng tạo hiệu ứng tâm lý tích cực, củng cố lòng tin của cộng đồng doanh nghiệp trước các giải pháp quyết liệt và kịp thời của Chính phủ, đặc biệt quan trọng hơn là gia tăng niềm tin, niềm lạc quan của người tiêu dùng vào sự phục hồi kinh tế, từ đó khôi phục sức mua trên thị trường thay cho xu hướng tiết kiệm, cắt giảm chi tiêu khi kinh tế khó khăn...
Một yếu tố cũng vô cùng quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng hợp lý của thị trường trong nước trong năm 2009 đó là: Kết quả tích cực từ các giải pháp điều hành, bình ổn thị trường nội địa của Bộ Công Thương như: Cân đối cung cầu; đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, khuyến khích các doanh nghiệp hạ giá bán nhằm kích thích tiêu dùng trong nước, tăng cường triển khai các biện pháp quản lý thị trường, về giá cả, chất lượng hàng hoá, kiểm tra, kiểm soát chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Theo dự báo của nhiều chuyên gia, năm 2010 thị trường trong nước sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: giá nguyên liệu nhiều mặt hàng trên thế giới sẽ cao hơn; thời tiết dịch bệnh sẽ diễn biến phức tạp; các gói kích thích kinh tế sẽ tiếp tục được thực hiện và tăng lương theo lộ trình sẽ làm ảnh hưởng tới nguồn cung tiền;...và giá cả hàng hoá. Tuy nhiên, với sự điều hành sát sao của Chính phủ và các Bộ, ngành địa phương, Bộ Công Thương cho rằng: Giá cả thị trường trong nước sẽ vẫn phát triển trong trạng thái bình ổn và không gây đột biến lớn. Chỉ số giá tiêu dùng sẽ được kiểm soát ở mức 7%; tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đạt trên 1.400.000 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2009./.
Nguyễn Hoà |