Chuyển bộ gõ
Nhìn lại năm 2009: Hai vấn đề nóng trong điều hành chính sách tiền tệ
Cập nhật lúc:  08:13 03/02/2010



(VEN) - Do tác động kéo dài của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, năm 2009 nền kinh tế nước ta liên tục phải đối đầu với nhiều khó khăn thách thức.

Các chính sách cấp bách nhằm thực hiện mục tiêu chặn đà suy giảm kinh tế, ổn định thị trường tài chính - tiền tệ, trong đó có hai chính sách (nhóm giải pháp) nóng được đặt lên hàng đầu là chính sách hỗ trợ lãi suất và điều tiết, ổn định thị trường ngoại hối. Đó là hai nhóm giải pháp có mối quan hệ trực tiếp, rộng lớn đến cộng đồng DN và dân cư mà ngành ngân hàng đảm nhận trách nhiệm chính.
Theo báo cáo ngày 23/12/2009 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Trung ương, ngay từ ngày đầu bước vào thực hiện các nhiệm vụ năm 2009, toàn ngành coi việc triển khai các chính sách hỗ trợ lãi suất theo các Nghị quyết 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 và Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 9/1/2009, số 443/QD-TTG ngày 4/4/2009, số 497/QĐ-TTG ngày 17/4/2009 và số 597/QĐ-TTG ngày 19/5/2009 của Thủ Tướng Chính phủ là “nhiệm vụ lớn trọng tâm hàng đầu năm 2009 của toàn ngành ngân hàng. Cùng với sự nỗ lực của chính mình, NHNN đã có sự phối kết hợp chặt chẽ, thường xuyên với các Bộ, ngành ở trung ương và cấp ủy, chính quyền và các cấp địa phương, triển khai đồng bộ, theo dõi tiến độ thực hiện, cập nhật đánh giá kết quả cũng như những vướng mắc, hạn chế cần khắc phục để hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằn sớm đáp ứng thêm vốn ưu đãi về lãi suất để khách hàng làm ăn vượt qua khó khăn, giảm giá thành sản phẩm, tiếp tục ổn định, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh. Các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế đánh giá cao về chính sách vay mang tính đặc thù, là giải pháp kích thích kinh tế tối ưu, chi phí thấp phù hợp với điều kiện Việt Nam được sự nhất trí, đồng thuận cao của cả hệ thống chính trị, người dân và cộng đồng DN. Nhờ vậy, tính đến giữa tháng 12/2009, nghĩa là sắp trọn một năm triển khai, cả nước đã có tổng dư nợ hỗ trợ lãi suất hơn 445 nghìn tỷ đồng, trong đó DNNN được thụ hưởng gần 60 nghìn tỷ đồng, DN ngoài Nhà nước 290 nghìn tỷ đồng và hộ sản xuất gần 65,1 nghìn tỷ đồng. Xuất phát từ tình hình thực tiễn đã qua, đối chiếu với thực tế hiện hành và các dự báo về diễn biến tình hình sản xuất kinh doanh, thanh toán trong thời gian tới, ngày 11/11/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 54/NQ-CP, theo đó là chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, NHNN tiếp tục ban hành cơ chế hỗ trợ lãi suất trong năm 2010 nhằm hỗ trợ phục hồi tăng trưởng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô. Cụ thể, tiếp tục hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho các khoản vay trung và dài hạn bằng Việt Nam đồng của các tổ chức, cá nhân thuộc một số ngành, lĩnh vực kinh tế theo cơ chế quy định tại Quyết định số 443/QĐ-TTG ngày 4/4/2009, với thời hạn hỗ trợ lãi suất tối đa 24 tháng, kể từ khi nhận khoản vay năm 2010. Chính sách kích thích phát triển này, về cơ bản đã phản ánh đầy đủ bức tranh kinh tế xã hội nước ta qua gần một năm triển khai các quyết định hỗ trợ lãi suất của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời khẳng định bước đi tiếp theo phù hợp với thực tế cuộc sống, với xu thế hội nhập sâu và tổ chức thương mại thế giới là chấm dứt việc hỗ trợ kéo dài, mang tính bao cấp trong cơ chế thị trường hội nhập.
Trong quá trình thực hiện chính sách kích thích kinh tế, một nội dung quan trọng, nhạy cảm mà NHNN triển khai khá tốt là việc điều hành cơ chế tỷ giá phù hợp với diễn biến của thị trường theo hướng nới lỏng thận trọng, tạo điều kiện cho các tín dụng mở rộng tín dụng hiệu quả. Từ tháng 2/2009 NHNN đã duy trì ổn định mức lãi suất hợp lý, từ đó giảm mặt hàng lãi suất cho vay. Theo đó, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam được điều chỉnh giảm từ 8,5%/năm xuống 7%/năm; lãi suất tái cấp vốn giảm từ 9,5%/năm xuống 7%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 7,5%/năm xuống còn 5%/năm. Thực hiện hoán đổi ngoại tệ để giảm bớt căng thẳng mất cân đối giữa nguồn và sử dụng nguồn vốn Việt Nam đồng và ngoại tệ; đồng thời mở rộng biên độ tỷ giá mua bán USD/VND của các NHNN từ +/-3% lên +/-5% kể từ ngày 24/3/2009. Song, từ cuối tháng 11/2009 để phù hợp với diễn biến mới của nền kinh tế, NHNN đã điều chỉnh biên độ ấn định tỷ giá xuống +/-3%, theo đó bắt đầu từ tháng 12/2009 lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng được điều chỉnh tăng lên 1%. Việc điều chỉnh tăng giảm lãi suất và biên độ tăng giảm tỷ giá đã thực sự khuyến khích sản xuất và xuất khẩu, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội.
Về biện pháp điều tiết quan hệ cung cầu ngoại tệ, ổn định thị trường ngoại hối (vàng, ngoại tệ), NHNN đã trình Chính phủ cho phép triển khai nhiều giải pháp như được phép bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân; chỉ đạo một số tập đoàn, tổng công ty có nguồn thu ngoại tệ lớn bán ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại; bắt buộc một số DN nhập khẩu lớn chuyển từ mua sang vay bằng ngoại tệ, theo đó là kiểm soát chặt chẽ nhập siêu, đặc biệt là việc nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu, không liên quan gì đến quá trình sản xuất, kinh doanh của các DN và của nền kinh tế.
Với thị trường vàng, nhìn chung, suốt cả chiều dài năm, thị trường vàng nước ta luôn phụ thuộc và chịu sự tác động cảu diễn biến thị trường vàng quốc tế, và càng phức tạp hơn khi bị yếu tố đầu cơ tung thổi tin đồn phục vụ cho hành động đầu cơ, phá giá. Điều này được chứng minh trong nửa đầu tháng 11/2009, giá vàng trong nước liên tục tăng, có thời điểm lên tới 29,3 triệu đồng/lượng, cao hơn từ 2,5-3 triệu đồng/lượng so với giá vàng quốc tế.
Khi cơn sốt về giá vàng tăng cao, tạo sức ép đến chóng mặt, NHNN thực thi ngay giải pháp cho các DN nhập khẩu vàng để cân đối cung cầu, kéo ngay giá vàng trên thị trường xuống. Theo đó là trình Chính phủ cơ chế về quản lý hoạt động các sàn giao dịch vàng. Kẻ cơ hội đầu cơ cạn đường vùng vẫy.
Tuy nhiên, bên cạnh cái được là cơ bản, xuyên suốt thì hai nhóm giải pháp được thực thi nêu trên hiện vẫn còn một số tồn tại, khó khăn, thách thức mà ngành ngân hàng sẽ tìm cách khắc phục trong năm tới. Đó là, tâm lý găm giữ ngoại tệ của DN và người dân vẫn chưa được giải tỏa triệt để. Giá vàng trên thị trường thế giới luôn diễn biến phức tạp, khó lường và thực sự đang có xu hướng tăng… Còn với chính sách hỗ trợ lãi suất, sự phối hợp giữa ngân hàng với các Bộ, ngành thực hiện Quyết định 497/QĐ-TTg chưa thật tốt, nhiều vướng mắc chậm được giải quyết cho nên nguồn vốn hỗ trợ chảy về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chưa nhiều, mức lãi suất vay USD thấp hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn đã phát sinh hiện tượng khách hàng vay để trục lợi bằng cách vay ngân hàng này gửi vào ngân hàng khác. Cũng qua chính sách hỗ trợ này được áp dụng khá rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, ngành hàng và đối tượng thụ hưởng cho nên xuất hiện tâm lý ỷ lại hoặc sử dụng vốn không đúng mục đích, không kiểm soát được. Đồng vốn hỗ trợ lãi suất thực sự đã giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào sản phẩm, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động./.
Hữu Hạnh


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại