Chuyển bộ gõ
Những người mở đường
Cập nhật lúc:  08:03 15/02/2010



(VEN) - Trước thềm năm mới, cùng ngồi “ôn cố tri tân” trong không khí xuân tràn ngập khắp phố phường, cánh phóng viên chúng tôi mới ngấm kỹ một điều, tinh thần “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, “Doanh nghiệp vì cộng đồng” hay việc phát triển lực lượng DN dân tộc đã được rất nhiều doanh nhân Hà Nội xưa coi là bài học nằm lòng, vận dụng thành công và biến nó trở thành ưu thế để phụng sự dân tộc, xây dựng nước nhà, cạnh tranh với tư bản nước ngoài.

Lương Văn Can - nhà Nho kinh doanh và truyền… “đạo làm giàu”
Là người có khát vọng canh tân đất nước mãnh liệt, hưởng ứng phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20, Lương Văn Can (xuất thân Nho học, từng thi đỗ Cử nhân khi mới 25 tuổi) mở trường Đông Kinh nghĩa thục năm 1907 ở số 10 Hàng Đào - Hà Nội và truyền bá không chỉ văn hóa dân tộc, lòng yêu nước, tinh thần chống Pháp mà cả “đạo làm giàu” để góp phần mở mang kỹ nghệ, phát triển thương mại nước nhà.
Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, cụ Lương Văn Can từng viết sách dạy đồng bào đi buôn cũng là truyền bá cái đạo làm giàu của mình. Trong sự nghiệp trước tác của cụ có hai cuốn sách bàn về việc kinh doanh, đó là cuốn "Kim cổ cách ngôn" và "Thương học phương châm". Cụ cho rằng: "Cổ nhân thường khinh sự buôn là mạt nghệ, bởi vì người đời xưa trọng đạo đức mà khinh công lợi, thấy người buôn tham lợi mà ít nói thực, sợ mất cái lòng đạo đức đi....” Từ cái gốc ấy, cụ luận về cách làm giàu thế nào để không đánh mất cái đạo đức của đời thường, gán cái thực dụng của đạo làm giàu không chỉ để "vinh thân phì gia" mà còn biết làm việc nghĩa với đồng bào và hô hào giúp nước.
Trên cái nhìn văn hóa ấy, cụ đã nhìn ra cái hạn chế của người Việt Nam ta thuở đó trên thương trường: "Người mình không có thương phẩm - không có thương hội - không có chữ tín - không có kiên tâm - không có nghị lực - không biết trọng nghề - không có thương học - kém đường giao tiếp - không biết tiết kiệm - khinh nội hóa." (trích trong cuốn “Thương học phương châm”). Cũng cần nói thêm rằng Lương Văn Can không chỉ viết sách dạy buôn bán mà chính cụ cũng từng xắn tay vào cuộc kinh doanh. Cụ thể là khi bị thực dân Pháp lưu đày ở Nam Vang (Phnom Penh - Campuchia), cụ đã cùng vợ là cụ bà Lê Thị Lễ lập một đường dây xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Hà Nội và thị trường Campuchia. Chính cái “đạo làm giàu” mà cụ truyền bá đã tạo nên một thế hệ những doanh nhân thời Duy Tân gắn mục tiêu làm giàu với công cuộc cứu nước.
Bạch Thái Bưởi: Dân giàu thì nước mới giàu
Sinh thời, ông được xếp vào danh sách bốn người giàu có nhất Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20 (nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xương, tứ Bưởi). Ấy vậy mà “ông vua đường thuỷ” như người ta vẫn xưng tụng này lại đi lên từ hai bàn tay trắng. Câu chuyện về Bạch Thái Bưởi cho chúng ta thấy tầm vóc của một nhà tư sản dân tộc tiêu biểu. Năm 1909, với 3 chiếc tàu thuê lại của hãng Marty để vận chuyển hành khách trên tuyến Hà Nội - Nam Định, Nam Định - Vinh, Bạch Thái Bưởi đứng bên bờ vực phá sản vì không thể cạnh tranh nổi với người Hoa và người Pháp. Song bằng sự tổ chức hết sức sáng tạo, ông hạ giá vận chuyển đến mức thấp nhất và đặt cho những con tàu của mình những cái tên đề cao tinh thần dân tộc: Lạc Long, Trưng Nhị, Đinh Tiên Hoàng, Hồng Bàng, Lê Lợi, Hàm Nghi... để thu hút khách người Việt. Chỉ một thời gian sau, đội tàu vận tải của ông đã vươn đến Hồng Kông, Singapore, Philippines... Bạch Thái Bưởi đã tạo dựng đượcmột cơ ngơi khép kín từ chạy tàu đến đóng tàu, sửa chữa tàu và các chi nhánh ở nhiều nơi, trở thành đối thủ cạnh tranh đáng gờm với các nhà tư sản thực dân Pháp. Tinh thần dân tộc đã được ông sử dụng thành công như một vũ khí để chiến thắng đối thủ cạnh tranh.
Sau thành công kinh doanh tàu vận tải, ông còn đầu tư vào lĩnh vực khai thác mỏ than (lúc đó bị thực dân Pháp cấm kỵ), buôn bán bất động sản, kinh doanh lĩnh vực văn hóa. Bạch Thái Bưởi còn cho ra tờ báo hàng ngày mang tên Khai hóa nhật báo với tôn chỉ: Giúp đồng bào ta tự khai hóa lẫn nhau, mở con đường thực nghiệp, cổ suý chí cốt làm giàu, “vì dân giàu thì nước mới giàu”.
Theo nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, tuy giàu có nhưng Bạch Thái Bưởi luôn quan tâm đến đời sống thợ thuyền, dành chế độ trợ cấp học sinh nghèo có chí khí du học, quan tâm đến an sinh xã hội cho nhân viên. Khí chất và khả năng kinh doanh của Bạch Thái Bưởi đã trở thành bài học cho nhiều doanh nhân Việt Nam qua các thế hệ. Những tôn chỉ nghiêm túc trên thương trường của ông như thương phẩm, thương hội, tín thực, kiên tâm, nghị lực, trọng nghề, thương học, giao thiệp, tiết kiệm và coi trọng hàng nội hóa được thương nhân sau này đánh giá là đã lấp đầy 10 khiếm khuyết cơ bản của doanh nghiệp Việt Nam mà Lương Văn Can đã từng chỉ ra.
Trịnh Văn Bô dốc sản nghiệp ra giúp nước mà không mong đền đáp
Ông là chủ hiệu buôn tơ lụa nổi tiếng mang tên Phúc Lợi tại số 48 phố Hàng NgangHà Nộicùng vợ là bà Hoàng Thị Minh Hồ là những thương nhân điển hình cho tầng lớp tư sản cách mạng, có trách nhiệm với cộng đồng và đất nước. Ngôi nhà của ông bà cũng là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở dịp cuối tháng 8 đầu tháng 9/1945, và là nơi ra đời bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Gia đình ông bà Trịnh Văn Bô bắt đầu kinh doanh buôn bán tơ lụa vải vóc từ những năm đầu thế kỷ 20. Hàng hoá của cơ sở Phúc Lợi không những được tín nhiệm ở trong nước mà còn đi khắp khu vực Đông Dương. Không chỉ kinh doanh phát đạt, giàu có nhất nhì Hà Nội, ông bà còn hết sức tích cực trong các hoạt động từ thiện. Khi Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, toàn bộ ngân khố của Chính phủ Cách mạng lâm thời chỉ có 1.200.000 đồng Đông Dương, gia đình ông Trịnh Văn Bô đã ủng hộ thêm cho Chính phủ tổng cộng 5.147 lượng vàng, tương đương 2.000.000 đồng Đông Dương.
Dốc hết công sức và sản nghiệp gia đình ra giúp nước, ông bà Trịnh Văn Bô chỉ tâm niệm một điều đơn giản: Phải giữ được chính quyền non trẻ này thì đất nước mới giành được độc lập, mới có tự do. Muốn vậy thì phải có tiền để lo nhiều chuyện. Việc ủng hộ là vô tư với mong muốn giúp ích cho việc giành độc lập dân tộc chứ không bao giờ nghĩ sau này cách mạng thành công sẽ thu được cái gì hay được trả lại.
Doanh nhân - chiến sĩ cộng sản Đỗ Đình Thiện
Gia tộc Đỗ Đình Thiện rất nổi tiếng ở Hà Nội những năm đầu thế kỷ trước. Đỗ Đình Thiện là một doanh nhân thành đạt, từ trước Cách mạng Tháng Tám đã là chủ cửa hàng buôn bán tơ lụa tại 54 Hàng Gai - Hà Nội, chủ một nhà máy dệt và một đồn điền lớn tại Chi Nê (Hòa Bình).
Năm 1927-1932, khi du học tại Trường Canh nông (Pháp), ông đã gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Cuối năm 1931, ông bị bắt trong một lần chuyển tài liệu bí mật của Đảng cho các thủy thủ người Việt trở về Đông Dương. Trong hồ sơ về Đỗ Đình Thiện do Sở Liên lạc người xuất xứ lãnh thổ Pháp ở hải ngoại ngày 6/9/1946 viết: Đỗ Đình Thiện là người cộng sản giác ngộ cao, từ khi trở lại Pháp, ông ta hoạt động rất tích cực: Chủ tịch Hiệp hội những người Đông Dương, ủy viên Ủy ban đấu tranh của người Đông Dương, ủy viên Đảng bộ địa phương của Đảng Cộng sản Pháp, ủy viên Cứu tế đỏ quốc tế”.
Sau khi bị đưa trở về Đông Dương, Đỗ Đình Thiện cùng vợ là Trịnh Thị Điền đã chuyển sang hoạt động bí mật trên lĩnh vực tài chính cho Đảng. Ngay từ năm 1943, ông và vợ đã đóng góp tiền của ủng hộ Chính phủ và Việt Minh. Trong Tuần lễ Vàng sau Cách mạng tháng Tám, ông đã đóng góp 100 lượng vàng cho Chính phủ và cũng là người đóng góp gần nửa cổ phần của Việt Nam Công thương ngân hàng. Căn nhà 54 Hàng Gai của gia đình ông trước đây là nơi đi lại của những lãnh tụ cách mạng như Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh...
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông bà Thiện còn mua máy in ủng hộ Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông cũng đã lập nhà máy in tiền cho Chính phủ - nhà máy in tiền đầu tiên của nước ta - tại đồn điền của gia đình mình ở Chi Nê. Đỗ Đình Thiện từng là một trong hai người tháp tùng Bác Hồ trong chuyến ngoại giao đầu tiên của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Fontainebleau (Pháp) năm 1946. Có thể coi gia đình ông là một cơ sở tài chính lớn của Đảng và Chính phủ trước và sau ngày nắm chính quyền.
Nguyễn Sơn Hà - gắng sức vì nước, vì dân tộc
Ông được tôn là “ông tổ nghề sơn dầu Việt Nam” với các thương hiệu sơn dầu nổi tiếng một thời vào đầu những năm 30 của thế kỷ trước. Sinh ra tại Hà Nội, làm thuê, tự học rồi lao vào thương trường, ông sớm trở thành chủ một hãng sơn dầu lớn lấy tên là Gecko, dám cạnh tranh cả với người Hoa và người Pháp ở Đông Dương.  
Sớm ý thức được nỗi tủi nhục của người dân mất nước, ở vị trí một doanh nhân, Nguyễn Sơn Hà mong muốn và quyết tâm góp phần xây dựng nền công nghiệp dân tộc, từ đó tiến tới những hành động thiết thực đem lại lợi ích cho nước, cho dân. Xuất thân từ một gia đình nghèo, Nguyễn Sơn Hà có một tấm lòng thương người đặc biệt, ông luôn quan tâm đến việc làm sao để nâng cao đời sống, vị thế của dân mình, thể hiện qua việc tích cực tham gia phong trào truyền bá quốc ngữ, tham gia Hội Trí tri, Hội Ánh sáng với mong muốn mở mang dân trí, thức tỉnh lòng yêu nước, tổ chức Ban cứu đói năm 1945, lập Trường Dục Anh để nuôi dạy trẻ mồ côi, tranh cử vào Hội đồng thành phố Hải Phòng với ý định đấu tranh đòi thực dân Pháp cải cách xã hội. Trong dịp thành phố tổ chức “Tuần lễ vàng”, gia đình ông tiêu biểu đi đầu bằng việc đóng góp 105 lượng vàng. Ông còn vận động các tầng lớp công thương ủng hộ cách mạng, thành lập Việt Nam võ khí công ty là cơ sở đúc súng đạn phục vụ cho phong trào tự vệ của thành phố. 
Khi thực dân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, cả gia đình ông đều tham gia kháng chiến, rồi lên Việt Bắc. Ở chiến khu, ông lại đem khả năng kỹ thuật công nghệ của mình đóng góp cho kháng chiến. Ông cùng một số cộng sự nghiên cứu tìm tòi các nguyên liệu và phương tiện để mở xưởng sản xuất giấy than, mực in litô và vải che mưa... Có thể thấy, Nguyễn Sơn Hà bước vào đời với ước mơ xây dựng một nền công nghiệp dân tộc và ông đi theo cách mạng với nghị lực, quyết tâm của một người yêu nước chân chính.
Ngô Tử Hạ - nhà tư sản kéo xe bò đi cứu đói
Từ một nông dân lên Hà Nội làm thuê từ năm 17 tuổi, sau gần nửa thế kỷ lập nghiệp, Ngô Tử Hạ trở thành nhà tư bản ngành in và bất động sản hàng đầu ở Đông Dương.
Khi Cách mạng tháng Tám thành công, Ngô Tử Hạ đã tích cực tham gia vào hai phong trào lớn của Chính phủ lâm thời là diệt giặc đói và giặc dốt. Hình ảnh cụ Ngô khăn xếp, áo the kéo xe bò dẫn đầu đoàn người qua các đường phố của Hà Nội kêu gọi quyên góp tiền bạc cứu đói, hình ảnh cụ cùng Hồ Chủ Tịch làm lễ cầu siêu cho hơn hai triệu người chết đói tại Nhà thờ lớn Hà Nội... vẫn đầy xúc động trong tâm trí các bậc cao niên ở Hà Nội. Bà Ngô Thị Hoàn, nguyên cán bộ Viện Kinh tế học nhớ lại: “Lúc đó tôi mới mười tuổi, trong đội nhi đồng được đi theo chiếc xe của cụ Ngô đánh trống, phất cờ, hô khẩu hiệu để vận động đồng bào cứu đói. Cụ Ngô kéo chiếc xe bò qua phố Tràng Tiền. Nhà nào cũng có người chờ sẵn bên hè phố, người thì bơ gạo, người thì đấu ngô, người thì góp tiền. Đi chưa hết một vòng bờ hồ thì xe gạo đã đầy. Về đến Nhà hát lớn gặp Bác Hồ, cụ Ngô báo với Bác chiếc xe chở lẫn lộn đủ các thứ: gạo đỏ, gạo trắng, gạo nếp, ngô... Bác Hồ chỉ vào xe gạo nói rằng: “Đây mới là gạo đại đoàn kết. Nước ta có nhiều thứ gạo ngon nhưng bây giờ thì đây là thứ gạo ngon nhất”. Hiến tất cả của cải và sức lực cho cách mạng, ông là tấm gương sáng về một doanh nhân, nhân sĩ yêu nước./.
Nhã Kỳ (sưu tầm)


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại