(VEN) - Trong năm 2011, công tác nghiên cứu khoa học công nghệ (KHCN) ngành công thương đã gặt hái được nhiều thành công nhất định, bên cạnh đó cũng tồn tại không ít những khó khăn cần phải khắc phục trong gian đoạn tới. Nhân dịp năm mới, phóng viên báo Kinh tế Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh về công tác nghiên cứu KHCN của ngành.
Xin Thứ trưởng cho biết những đánh giá về công tác nghiên cứu KHCN của ngành công thương trong những năm vừa qua?
Nhìn một cách tổng thể, trong những năm vừa qua, KHCN ngành công thương đã có những bước phát triển, có những đóng góp xứng đáng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước nói chung và của ngành công thương Việt Nam nói riêng.
Bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế và thể chế quản lý nhà nước về KHCN, chúng ta đã tăng cường đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị, cùng với đó là phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu KHCN ở các đơn vị trực thuộc Bộ, các viện nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu KHCN trực thuộc các tập đoàn, các tổng công ty cũng như của các trường và các tổ chức kinh tế khác.
Về kết quả các đề tài nghiên cứu KHCN cấp nhà nước, cấp Bộ cũng như cấp cơ sở trong thời gian qua đã cải thiện đáng kể, cả về số lượng, chất lượng và nội dung. Phạm vi ứng dụng của các đề tài KHCN đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần mang lại tính ứng dụng cao trong công nghiệp.
Một kết quả tích cực không thể không nhắc đến là sự định hình và phát triển thị trường KHCN. Hầu hết các tổ chức, đơn vị đều rất thành công trong việc thực hiện chuyển đổi trên tinh thần Nghị định 115 trong việc chuyển đổi các tổ chức, đơn vị nghiên cứu theo hướng sự nghiệp tự chủ là chính. Tiêu biểu ở đây phải kể đến mô hình Viện Năng lượng, Viện Dầu khí, Viện Cơ khí mỏ…
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ nghiên cứu được tiếp tục nâng cao năng lực, đóng góp xứng đáng vào việc tiếp cận KHCN cũng như sự phát triển của một số ngành sản xuất như dầu khí, năng lượng, công nghiệp khai khoáng...
Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn không ít những khó khăn tồn tại, vậy theo Thứ trưởng những tồn tại đó là gì?
Bên cạnh những kết quả tích cực, việc triển khai các hoạt động KHCN cũng tồn tại nhiều hạn chế. Các đơn vị, tổ chức nghiên cứu KHCN gặp nhiều khó khăn đặc biệt trong việc tạo dựng tài sản cố định cũng như nguồn lực để tiếp cận và triển khai đề tài nghiên cứu KHCN. Một số vướng mắc trong lĩnh vực định mức tiêu và quản lý tài chính của các dự án chưa được hướng dẫn kịp thời, điều này gây nhiều bất lợi cho viện và các nhà nghiên cứu khoa học trong việc tiếp cận và thực hiện các đề tài.
Trong một số lĩnh vực sản xuất, việc phát triển và tiếp cận công nghệ mới còn mang tính đơn lẻ và chưa đồng bộ, trong khi đó, hệ thống trang thiết bị cơ sở vật chất vẫn còn lạc hậu, số lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu KHCN chưa đáp ứng yêu cầu và chế độ đãi ngộ cho các cán bộ chưa được cải thiện.
Ngoài ra, việc phối hợp và phân định trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước với lực lượng sản xuất thực hiện chuyển giao công nghệ chưa được hình thành một cách bền vững.
Có ý kiến cho rằng, các viện nghiên cứu Việt Nam chưa thật sự chú trọng đến việc đăng ký bản quyền cho các đề tài nghiên cứu của mình, và các đề tài nghiên cứu cũng chưa thực sự đi vào cuộc sống, Thứ trưởng nhìn nhận về vấn đề này như thế nào?
Có thể nói, các đề tài nghiên cứu KHCN cấp nhà nước, cấp bộ đã có được sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, tuy nhiên, các đề tài này chưa đóng góp nhiều vào việc hình thành thị trường KHCN ở Việt Nam. Bên cạnh đó, tính ứng dụng của các đề tài trong lĩnh vực sản xuất cũng chưa được phát huy.
Trong cơ chế quản lý, có quá nhiều bộ ngành tham gia nên sự gắn kết giữa khu vực sản xuất với cán bộ nghiên cứu không chặt chẽ. Điều này dẫn đến sự không thống nhất trong việc xác định và thực hiện những nhiệm vụ KHCN.
Từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu khoa học ứng dụng phải qua một quy trình dự án thực nghiệm, dự án này đòi hỏi nguồn đầu tư lớn và có xác suất mất mát. Tuy nhiên, điều này nhà nước chưa đủ sức kham hết, vì vậy một số đề tài nghiên cứu khoa học chỉ dừng lại ở kết quả mà chưa đi vào ứng dụng.
Bản thân các tổ chức nghiên cứu khoa học dù trực thuộc Bộ, trực thuộc tập đoàn hay tổng công ty đều chưa chuyển đổi quen với mô hình chuyên nghiệp ngay cả trong công tác KHCN gắn với phục vụ cho sản xuất và KHCN ứng dụng hướng tới thực hiện những quy trình về đăng kí bảo hộ bản quyền sở hữu công nghiệp.
Vậy, trong thời gian tới, ngành công thương có những chiến lược cụ thể và tập trung vào những lĩnh vực nào thưa Thứ trưởng?
Trong thời gian tới, ngành công thương cần có sự quan tâm hơn nữa từ hệ thống quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, các tập đoàn và tổng công ty để hình thành và phát triển thị trường KHCN.
Cụ thể, trong giai đoạn 2011-2015, ngành công thương tiếp tục xác định những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược KHCN cũng như kế hoạch KHCN năm 2012 để thống nhất với Bộ Khoa học Công nghệ và các Bộ ngành có liên quan nhằm thực hiện tốt mục tiêu nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất và đóng góp của ngành công nghiệp thương mại vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Giai đoạn tới, bên cạnh việc tập trung phát triển 6 chương trình trọng điểm quốc gia về phát triển KHCN, ngành công thương sẽ tăng cường phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn. Việc ứng dụng KHCN trong sản xuất ở các lĩnh vực dầu khí, hóa chất, khai khoáng cần được nâng cao, góp phần tăng giá trị gia tăng và hướng tới những công nghệ này sẽ chiếm tỷ trọng ít nhất 40-50% trong phần giá trị gia tăng của sản xuất trong lĩnh vực đó.
Xác định những chiến lược để tiếp cận những công nghệ tiên tiến hiện đại và thân thiện với môi trường trong ngành công nghiệp; hoàn thiện hơn cơ chế quản lý nhà nước để khuyến khích phát triển công nghệ và đưa ra chế tài đòi hỏi áp dụng KHCN vào sản xuất cũng là những mục tiêu cần hướng tới trong giai đoạn tiếp theo.
Ngoài ra, ngành công thương sẽ tiếp tục đặt trọng tâm thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 3 đề ra trong giai đoạn hiện nay là tái cơ cấu nền kinh tế, tập trung vào các trọng tâm ưu tiên như đảm bảo yếu tố công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc tái cơ cấu đầu tư cũng như tái cơ cấu các doanh nghiệp. Chuyển đổi mô hình hoạt động của các viện nghiên cứu, các đơn vị theo cơ chế tự chủ, xây dựng và ứng dụng tốt mô hình hiện đại trong nghiên cứu KHCN, đặc biệt là mô hình vườn ươm trong các viện nghiên cứu cũng là điều cần được chú trọng trong thời gian tới. Bên cạnh đó, cũng cần nâng cao hơn nữa tỷ lệ các đề tài hướng đến tính ứng dụng cao, dựa trên nhu cầu của thị trường, theo đó, ngành công thương sẽ phấn đấu đến năm 2012-2015, đạt 70-80% các đề tài xuất phát từ nhu cầu thị trường cũng như tỷ lệ đưa vào ứng dụng phải nâng cao./.
Xin cảm ơn Thứ trưởng!
Hoa Hương thực hiện
|