(VEN) - Vì sao Hàn Quốc trở thành một quốc gia có mức tăng trưởng vượt trội nhờ xuất khẩu? Bí quyết nào đã làm nên uy tín của hàng loạt sản phẩm Hàn Quốc trên thị trường quốc tế – đó chính là công nghệ tiên tiến với chất lượng vượt trội.
Nói cách khác, công nghệ chính là chìa khóa quan trọng để mở cánh cửa công nghiệp hóa. Chia sẻ những kinh nghiệm phát triển công nghệ trong công nghiệp là một trong những nội dung quan trọng của Dự án chia sẻ tri thức Hàn Quốc – Việt Nam (KSP).
Các chuyên gia Hàn Quốc cho biết: "Mặc dù có những điểm khác biệt về các giai đoạn phát triển nhưng Việt Nam đang theo đuổi những khuôn khổ chính sách phát triển công nghệ công nghiệp tương tự như Hàn Quốc thời gian trước". Cho nên, những kinh nghiệm của Hàn Quốc chính là những kinh nghiệm quí báu để tham khảo cho quá trình phát triển của Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với một số yếu kém như kết cấu hạ tầng sản xuất công nghiệp, các hoạt động nghiên cứu và triển khai KHCN tuy đã có cải thiện nhưng còn phải mất một thời gian mới đạt đến trình độ của các nước. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực KHCN chưa tận dụng được hết, chưa có sự đồng đều và liên kết giữa đội ngũ làm KHCN các vùng, miền. Đây chính là những yếu tố đầu tiên Việt Nam cần quan tâm khắc phục để tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa của mình.
Ông Shin Taeyoung – Nghiên cứu viên cao cấp của dự án cho biết: "Kinh nghiệm đầu tiên của Hàn Quốc cho Việt Nam chính là xây dựng một lộ trình công nghệ hoàn chỉnh". Cụ thể, Việt Nam nên đề ra một mục tiêu quốc gia với quan điểm là nền kinh tế quốc dân sẽ phải hướng tới một xã hội công nghệ cao trong tương lai, bảo đảm chất lượng cuộc sống và tăng cường khả năng cạnh tranh thông qua việc nâng cao năng lực về KHCN. Sau đó phải tiến hành dự báo về kinh tế - xã hội và công nghệ và dự báo môi trường tương lai. Từ đó sẽ đề ra chỉ tiêu và chiến lược KHCN cụ thể. .
Còn theo TS. Deok Soon Yim – Trung tâm Khoa học và Công nghệ Gyeonggi (GSTC): "Cần thúc đẩy mối quan hệ giữa ngành công nghiệp – trường đại học và viện nghiên cứu bởi nó đóng vai trò quan trọng làm cho việc đầu tư vào nghiên cứu và triển khai KHCN trở nên hiệu quả. Vì quy trình đổi mới thường đòi hỏi cả ba chủ thể này làm việc chặt chẽ với nhau nên nó thường quyết định kết quả của đầu tư vào KHCN của quốc gia".
Để thúc đẩy mối quan hệ của những yếu tố này, Chính phủ cần tạo ra hệ thống đổi mới mở cửa ở cấp độ toàn cầu. Khi hệ thống quốc gia về đổi mới mở cửa và được kết nối mạng lưới, mối quan hệ giữa ngành công nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học sẽ được tự động hình thành. Thứ hai, các đơn vị này nên được hình thành ở các địa điểm gần, sát với nhau; Về phương diện này, việc hình thành các khu KHCN là chính sách tốt. Yếu tố thứ ba làm cho các bên làm việc cùng nhau chính là cung cấp các dự án nghiên cứu và triển khai mang tính cộng tác và các hoạt động đổi mới khác. Một yếu tố quan trọng nữa là cần có những biện pháp cung cấp điều phối viên – những người biết về ngành công nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu để thúc đẩy hình thành mối quan hệ này. Thứ năm, Chính phủ cần tăng ngân sách cho KHCN và trợ cấp cho trường đại học và các doanh nghiệp công nghiệp tư nhân.
Kinh nghiệm thứ ba, theo TS. Suh Joonghae (Trung tâm phát triển quốc tế KDI): "Việt Nam cần tăng cường các biện pháp khuyến khích nghiên cứu và chuyển giao công nghệ". Theo số liệu năm 2007, Việt Nam chi khoảng 612 tỷ đồng cho nghiên cứu khoa học chiếm 15% tổng chi ngân sách và chiếm 0,2 – 0,3% GDP. Đây là một mức chi hạn chế bởi vào những năm 1968, khi Hàn Quốc chưa phải là một nước phát triển, chính phủ đã có mức chi 0,4% GDP cho nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, chính phủ Hàn Quốc đã có một kế hoạch dài để đẩy mạnh KHCN và sau hơn 20 năm, vào năm 1989, mức chi dành cho KHCN đã tăng lên mức 2,5%. Để đạt được những thành tựu trong KHCN, theo các chuyên gia, Việt Nam cũng cần có những kế hoạch dài hơi như vậy. Bên cạnh đó, việc dành những ưu đãi nhất định cho các tổ chức, cá nhân như: xây dựng những cơ chế cho các giáo sư, chuyên viên nhằm thúc đẩy nghiên cứu KHCN cũng là một yếu tố quan trọng nhằm phát triển công nghệ phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa đất nước./.
Phương Lan |