(VEN) - Sau khi “Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn 2050” dày 100 trang và 31 bản đồ kèm theo do Liên danh Tư vấn quốc tế PPJ thiết kế được công bố, Hội Môi trường xây dựng Việt Nam với vai trò “tư vấn phản biện và giám định xã hội” đã tổ chức một số cuộc hội thảo nhằm thu nhận các ý kiến nhận xét và đánh giá của những chuyên gia đầu ngành về bản quy hoạch này.
Ngày 31/3/2010, bản nhận xét đã được tập thể 31 chuyên gia thống nhất và được gửi đến lãnh đạo Nhà nước và Hội đồng thẩm định quốc gia, trong đó đưa ra 11 điểm trong quy hoạch còn bất cập.
Quy hoạch mới có thực sự hướng đến mục tiêu “xanh”?
Trong bản nhận xét, bên cạnh một số vấn đề về quy hoạch được cho là chưa “hợp lý” như chuyển trung tâm hành chính quốc gia lên Hoà Lạc - chân núi Ba Vì, quy hoạch thành phố hai bên bờ sông Hồng… thì môi trường là vấn đề trọng tâm được các nhà khoa học, các chuyên gia quan tâm phân tích. Theo GS.TSKH Phạm Ngọc Đăng - Chủ tịch Hội Môi trường xây dựng Việt Nam, “muốn thủ đô Hà Nội “xanh - văn hiến - văn minh và hiện đại” thì trước hết TP.Hà Nội (đô thị trung tâm) phải là một đô thị xanh - văn hiến - văn minh và hiện đại, trong đó tiêu chí “xanh” là hết sức quan trọng, còn tiêu chí “hiện đại” chỉ nên ở mức phù hợp. Đồ án quy hoạch chưa đạt được mục đích này. Đồ án quy hoạch chưa coi trọng đúng mức quy hoạch đô thị trung tâm (TP. Hà Nội) trở thành một đô thị “xanh - văn hiến - văn minh và hiện đại”, quy hoạch thiếu cụ thể, một số phương án quy hoạch đến năm 2030 chỉ là định hướng, đặc biệt là chưa có các giải pháp đầy đủ và phù hợp để giải quyết các vấn đề nổi cộm và bức bách về môi trường vật lý và môi trường xã hội của Hà Nội, thiếu các giải pháp quy hoạch cụ thể về cải tạo, nâng cấp và hiện đại hoá hệ thống hạ tầng kỹ thuật của TP. Hà Nội hiện nay”.
Riêng việc quy hoạch chuyển trung tâm hành chính quốc gia lên Hoà Lạc - chân núi Ba Vì, ngoài một số vấn đề bất hợp lý khác thì một vấn đề cơ bản mà đồ án bỏ qua, đó là chân núi Ba Vì là vùng đệm của Vườn quốc gia Ba Vì, là thảm thiên nhiên và thảm sinh thái nông nghiệp, rừng đầu nguồn rất quý giá cần được bảo tồn. Do đó, khu vực chân núi Ba Vì chỉ thích hợp là khu bảo tồn thiên nhiên, du lịch sinh thái và là vùng tâm linh quan trọng của Hà Nội mở rộng, không phù hợp để xây dựng đô thị trung tâm hành chính quốc gia. Hay quy hoạch cũng nêu rõ phát triển thành phố hai bên bờ sông Hồng mà chưa lường hết yếu tố biến đối khí hậu sẽ ảnh hưởng điều kiện địa chất, thuỷ văn, nhất là điều kiện địa chất sông Hồng liên quan đến vết đứt gãy sâu của sông Hồng dài 1.500km từ Vân Nam (Trung Quốc) tới vịnh Bắc bộ. Theo các nhà khoa học, quy hoạch về cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải cũng chưa thể hiện rõ tính khả thi, bởi đồ án ghi rõ “giảm dần khối lượng khai thác nước ngầm Hà Nội, giai đoạn 2020 còn 400.000 m3/ngày đêm, đến năm 2030 còn là 265.000 m3/ngày đêm”. Đây là phương án chưa kinh tế, thiếu khả thi mà theo các nhà khoa học nên chăng tăng khả năng bổ cập nước mặt cho nước ngầm, duy trì công suất khai thác nước ngầm như hiện nay đến năm 2030 và lâu hơn nữa. Đồng thời nguồn nước mặt lấy từ sông Đà, sông Hồng, sông Đuống là phù hợp và không nên sử dụng nguồn nước sông Lô vì nguồn nước này về mùa khô là tương đối nhỏ và rất cần cấp cho các đô thị và các khu công nghiệp, khu dân cư thuộc lưu vực của nó.
Bất cập trong giải quyết thoát nước và xử lý nước thải
Trong khi đó, đối với vấn đề thoát nước mưa, chống úng ngập và xử lý nước thải chống ô nhiễm môi trường, bản đồ quy hoạch vẫn dựa trên quy hoạch thoát nước và phương án xây dựng 7 trạm xử lý nước thải tập trung tại 7 khu vực được phân chia mà JICA lập cũng là chưa hợp lý. Bởi theo các nhà khoa học thì quy hoạch thoát nước do JICA lập 15 năm qua đã không đạt được mục tiêu, Hà Nội vẫn bị úng ngập trầm trọng, nước sông hồ vẫn bị ô nhiễm, trong khi đó mới chỉ xây dựng được 2 trạm thử nghiệm xử lý nước thải ở khu vực hồ Trúc Bạch và Kim Liên, 5 trạm còn lại đến nay vẫn chưa thực hiện được do không tìm ra các khu đất nội đô để xây dựng. Đấy là còn chưa kể đến khó khăn trong việc thu gom nước thải về các trạm xử lý này, trong khi tại các khu đô thị mới, chủ đầu tư dự án hầu như không xây dựng các trạm xử lý nước thải cho riêng mình mà đều trông chờ để dẫn về các trạm xử lý nước thải lớn, tập trung. Điều này khiến cho sông hồ ngày càng bị ô nhiễm. Vì vậy, các nhà khoa học đề nghị quy hoạch nên đánh giá lại phương án của JICA, nghiên cứu xây dựng quy hoạch thoát nước và xử lý nước thải cho TP. Hà Nội phù hợp với tình hình thực tế, không giữ nguyên phương án quy hoạch của JICA được.
Quản lý chất thải rắn và quy hoạch nghĩa trang cần văn minh hơn
Mục tiêu mà đồ án quy hoạch hướng đến là xây dựng một đô thị “xanh - văn hiến - văn minh và hiện đại”, tuy nhiên theo các nhà khoa học thì quy hoạch số lượng bãi và diện tích bãi đổ phế thải xây dựng là chưa có căn cứ khoa học, nhất là khi quy hoạch bãi đổ phể thải xây dựng lại là vùng không gian xanh với lý do sẽ trồng cây xanh sau khi đổ phế thải là hoàn toàn không hợp lý, đó là chưa tính đến quy hoạch thiếu phần quản lý phân bùn, chưa tính đến phát triển công nghệ chế biến, tái chế, tái sử dụng… trong khi chỉ hướng đến chôn lấp 15% chất thải rắn không thể tái chế, tái sử dụng được và chôn lấp rác đô thị. Còn quy hoạch nghĩa trang ở thủ đô vẫn theo phương thức truyền thống là hung táng, chôn lấp 1 lần và cải táng mà chưa coi trọng đúng mức đến phương án hoả táng, nên chiếm diện tích đất lớn và là nguồn gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước… Vậy phải giải quyết vấn đề này phát triển theo hướng hoả táng, phù hợp với một đô thị văn minh - hiện đại.
Quy hoạch phát triển làng nghề, các khu - cụm công nghiệp phải gắn với bảo vệ môi trường
Cũng theo các nhà khoa học, muốn phát triển làng nghề hay các khu - cụm công nghiệp đều phải đảm bảo yếu tố phát triển bền vững, bảo tồn đất nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tuy nhiên, trong đồ án quy hoạch đến năm 2030 đã lấn chiếm 73,5% đất nông nghiệp chuyển thành đất khác, mặc dù trong thuyết minh quy hoạch nêu rõ là phải bảo tồn đất nông nghiệp. Bên cạnh đó, quỹ đất của các khu công nghiệp, khu sản xuất sau khi di dời ra khỏi nội đô lại phục vụ cho phát triển các khu dân cư và dịch vụ là hoàn toàn không hợp lý, vì nếu phát triển thêm dân cư chỉ tăng thêm gánh nặng môi trường và gia tăng dân số nội đô, kèm theo đó là những hệ luỵ khác về cơ sở hạ tầng. Vì vậy, theo ý kiến từ phía Hội Môi trường xây dựng Việt Nam, 100% quỹ đất giải phóng chỉ phục vụ cho phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị, phát triển diện tích cây xanh, vườn hoa, không gian vui chơi, giải trí thể thao và các công trình công cộng.
“Hành lang xanh” hay “không gian xanh”?
Mặc dù “hành lang xanh” được xem là điểm sáng tạo của quy hoạch này nhưng với những con số, số liệu mà quy hoạch đưa ra thì thực chất “hành lang xanh” chiếm 70% đất thủ đô là đất đồng ruộng, đất nông nghiệp, đất làng mạc nông thôn và đất bảo tồn đa dạng sinh học hiện có. Thực tế diện tích này hiện nay của thủ đô còn lớn hơn 70% nhiều. Do vậy, các nhà khoa học cho rằng khái niệm “hành lang xanh” là không phù hợp với khái niệm “không gian xanh” mà thế giới thường dùng. Cũng theo GS.TSKH Phạm Ngọc Đăng thì thuyết minh trình thẩm định phải nói rõ đã lấn chiếm hàng ngàn hecta đất nông nghiệp để xây dựng đô thị, giao thông và công nghiệp. Vì vậy, quy hoạch 70% đất thủ đô là “hành lang xanh” và nói rằng đây là tỷ lệ lớn nhất so với thủ đô các nước là không đúng thực tế”. “Không gian xanh đô thị” đáng ra phải tạo lập được không gian xanh công cộng xung quanh và bên trong thành phố thông qua hệ thống cây xanh, phải có tác dụng cải thiện môi trường, hấp thụ khí CO2, cải thiện vi khí hậu, giảm úng ngập trực tiếp cho đô thị, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học...
Như vậy, “hành lang xanh” trong đồ án quy hoạch này không phải là “hành lang xanh đô thị” thực sự, vì trong đồ án quy hoạch không có giải pháp làm tăng diện tích cây xanh trong nội đô thành phố. Hơn nữa, thủ đô Hà Nội có Rừng quốc gia Ba Vì, khu bảo tồn thiên nhiên Sóc Sơn và Hương Tích nhưng trong bản quy hoạch này không có mục nào nói đến phát triển rừng và bảo tồn đa dạng sinh học.
Mặc dù còn rất nhiều vấn đề môi trường khác có liên quan tại quy hoạch của các hạng mục khác, tuy nhiên, xét về cả mặt kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học cho rằng quy hoạch này còn thiếu tính khả thi. Với những vấn đề còn tồn tại, Hội Môi trường xây dựng Việt Nam mong muốn giúp cho Liên danh Tư vấn quốc tế PPJ sữa chữa và hoàn thiện đồ án./.
Hường Nga |