Chuyển bộ gõ
Sức ép tỷ giá cuối năm (!?)
Cập nhật lúc:  15:21 30/06/2010



(VEN) - Mối quan ngại trên vừa được giới chuyên môn đưa ra trong hội thảo “Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay”, do Trường Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực (Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Vietinbank) tổ chức tại Hà Nội.

Những diễn biến phức tạp về tình hình kinh tế tài chính thế giới, sự chao đảo trong quan hệ tỷ giá giữa đồng đôla Mỹ với đồng euro, đồng nhân dân tệ, đồng yên Nhật và các ngoại tệ mạnh khác trên thế giới cũng như sự biến động tỷ giá giữa USD/VND thời gian qua cho thấy, tỷ giá luôn là vấn đề thời sự nóng bỏng và hết sức nhạy cảm đối với cán cân thương mại, vấn đề nợ công, lãi suất và đầu tư trực tiếp, gián tiếp nước ngoài.
“Sự thay đổi của tỷ giá sẽ tác động trực tiếp, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, các DN. Đặc biệt là những bất ổn vĩ mô về xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế, bội chi ngân sách nhà nước… càng làm cho vấn đề tỷ giá trở nên khó khăn hơn” - PGS, TS. Lê Hoàng Nga - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước nhấn mạnh. Năm 2008, tỷ giá chính thức được điều chỉnh tới 5 lần. Năm 2009, tỷ giá được điều chỉnh linh hoạt, phá giá 5,44% đồng Việt Nam vào ngày 26/11/2009, biên độ dao động tỷ giá còn ±3%. Và quý I/2010, tỷ giá đã được điều chỉnh 2 lần chỉ trong 2 tháng.
Nhiều ý kiến cho rằng tỷ giá làm ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu, và là một rào cản đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, vì vậy cần có giải pháp để hỗ trợ xuất khẩu. Các đợt giảm giá của VND vẫn không cải thiện được bao nhiêu cán cân thương mại. Do đó, để lập luận cần phải có sự điều chỉnh linh hoạt VND để cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam là chưa ổn?
Về vấn đề trên, TS. Vũ Đình Ánh - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả cho rằng, nếu chỉ xác định tỷ giá có vai trò thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu là chúng ta đã cắt bớt vai trò của tỷ giá hối đoái, trong khi nó có vai trò rất quan trọng, liên quan đến hàng loạt các vấn đề kinh tế cốt tử như cán cân thanh toán, thanh toán nợ, thị trường tiền tệ, quản lý điều hành giá cả trong nước… “Trong bối cảnh Việt Nam xuất khẩu nhiều, nhập khẩu cũng nhiều, thì chính sách tỷ giá hối đoái có tác động rất lớn và theo nhiều cách khác nhau đến mặt bằng giá cả trong nước. Điều này thể hiện khá rõ trong những năm 2007-2009 vừa qua: Khi thị trường thế giới biến động thì lập tức có phản ứng gần như 1-1” - TS. Ánh cho hay.
Ở khía cạnh khác TS. Ánh cũng cho rằng, tỷ giá còn ảnh hưởng tới vấn đề thanh toán nợ. Thông thường phá giá được nhìn nhận là một biện pháp để thúc đẩy xuất khẩu, nhưng phá giá sẽ làm cho gánh nặng nợ nước ngoài tính bằng VND tăng vọt và qua đó tác động tới khả năng thanh toán nợ cũng như vay nợ mới. Do đó, cần phải đánh giá lại toàn bộ vai trò, tác động của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái tới nền kinh tế. Cần phải đặt tỷ giá hối đoái trong mối tương quan với xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư, vay nợ, tiền tệ… trong định hướng chiến lược chung là câng cao tính chuyển đổi của VND.
Đồng tình với quan điểm trên, ông Phí Đăng Minh, Vụ Quản lý ngoại hối – Ngân hàng Nhà nước, cho rằng, giảm giá VND tuy có lợi cho xuất khẩu, nhưng giá đồng USD cao lại không có lợi cho nhập khẩu, nhập khẩu giảm sẽ ảnh hưởng đến phát triển sản xuất trong nước, vì thế một khi nhập khẩu giảm thì xuất khẩu cũng giảm theo.
Theo tính toán tỷ lệ nhập khẩu trong xuất khẩu còn khá cao, chiếm khoảng 2/3 giá xuất xưởng. Tỷ lệ nhập khẩu trong sản phẩm xuất khẩu ở mức cao dẫn tới thực tế là nếu muốn tăng xuất khẩu thì nhất thiết phải tăng nhập khẩu. Điều này xuất phát từ việc chúng ta đầu tư quá ít vào các lĩnh vực hỗ trợ phát triển các ngành phụ trợ hoặc dây chuyền trong nước. Do đó, “chỉ khi nào chúng ta cải thiện được cán cân thương mại, khắc phục được những điểm yếu về cơ cấu thương mại, cơ cấu mặt hàng, cơ cấu sản xuất sản phẩm thay thế… thì các chính sách về tỷ giá, tiền tệ mới có thể phát huy đầy đủ được tác dụng” - ông Minh nhấn mạnh.
Theo bà Nga, Việt Nam nên xây dựng và sử dụng cơ chế tỷ giá linh hoạt, cụ thể là cơ chế “rổ” tiền tệ với biên độ trượt. Điều này là phù hợp với: (1) Yêu cầu của ASEAN về cố định tỷ giá giữa các nước thành viên nhằm thúc đẩy thương mại nội khối; (2) có độ linh hoạt nhất định về tỷ giá với các nền kinh tế lớn khác; và (3) đảm bảo không đưa tỷ giá chỉ dựa vào 1 ngoại tệ mạnh, bởi khi đồng tiền này biến động mạnh sẽ không đảm bảo bền vững./.
Ths Bùi Hữu Toàn - Minh Đức


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại