Chuyển bộ gõ
Chi trả dịch vụ sinh thái (PES): Mô hình nào phù hợp với Việt Nam?
Cập nhật lúc:  10:01 29/06/2010



(VEN) - Tại hội nghị quốc tế về chi trả dịch vụ sinh thái (PES) khu vực Đông Nam Á được tổ chức mới đây tại Hà Nội, nhiều ý kiến cho rằng để triển khai rộng rãi, Việt Nam cần xác định rõ mô hình phù hợp với điều kiện của mình.

Đẩy mạnh xã hội hoá “nghề rừng”
Ông Michael Jenkins, Chủ tịch Tổ chức Forest Trends, một tổ chức quốc tế hoạt động với mục tiêu tăng cường giá trị của rừng đối với xã hội cho rằng: Sự đa dạng sinh học và hệ sinh thái tự nhiên (rừng, rừng ngập mặn, đất ngập nước) có ý nghĩa sống còn đối với nhân loại. Tuy nhiên, việc cung cấp tài chính từ Chính phủ cho việc bảo tồn đa dạng sinh học không đủ để đạt được các mục tiêu đề ra. Mặt khác, các hoạt động kinh tế lại làm tổn hại đến sự lành mạnh của môi trường sinh thái. Vì thế, các doanh nghiệp khi khai thác môi trường tự nhiên phục vụ hoạt động kinh tế cần phải chi trả cho những người có công bảo tồn hoặc phục hồi các dịch vụ sinh thái.
Hiện nay Việt Nam có ¾ diện tích là vùng đồi núi cùng hơn 4.000 con sông, do đó rừng đầu nguồn của các lưu vực sông có vai trò rất quan trọng trong việc phòng hộ nhằm duy trì nguồn nước cho phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với đó, hệ sinh thái đất ngập nước ven biển, đặc biệt là rừng ngập mặn có vai trò rất quan trọng trong việc phòng hộ ven biển, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của các ngành kinh tế biển và ven biển Việt Nam. Chính phủ đã xác định việc bảo vệ và phát triển rừng phải gắn với xóa đói giảm nghèo và đẩy mạnh việc xã hội hóa nghề rừng, thu hút các nguồn lực của xã hội cho nhiệm vụ quan trọng này.
Từ năm 2008, Việt Nam bắt đầu thực hiện thí điểm việc chi trả dịch vụ môi trường rừng tại hai tỉnh Sơn La và Lâm Đồng. Sau hai năm thực hiện, đến nay hoạt động mới mẻ này đã đạt được một số thành công nhất định và nhận được sự đồng thuận rất cao của đồng bào các dân tộc và các tỉnh trung du miền núi. Đây là những cơ sở quan trọng để Bộ NN&PTNT soạn thảo Nghị định về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, tiến tới trình Chính phủ phê duyệt vào quý III/2010 và ban hành chính sách thực hiện trong cả nước. 
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) tại hai tỉnh Lâm Đồng và Sơn La. Trong đó, quy định mức chi trả tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng là 20 đ/kwh đối với thủy điện, 40đ/m³ đối với nước sinh hoạt. Số tiền mà các doanh nghiệp mua dịch vụ sẽ được đưa vào Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Lâm Đồng để trả cho các tổ chức và hộ dân được khoán để bảo vệ rừng. Trong 9 tháng đầu năm 2009, Quỹ này đã nhận được 35 tỷ đồng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng và đến nay đã có hơn 3.000 hộ nông dân, trong đó 70% là đồng bào dân tộc K’Ho được nhận tiền dịch vụ để bảo vệ 220.000ha rừng. Họ đã hiểu rõ mục đích của việc bảo vệ rừng và giá trị lao động của họ đã trở thành hàng hóa. Nhiều hộ đồng bào dân tộc K’Ho ở xã Đa Nhim, huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) đã đề nghị được nhận khoán thêm diện tích rừng để bảo vệ. Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng giúp cho cuộc sống của các hộ nghèo được cải thiện đáng kể. Tình trạng phá rừng làm nương rẫy, khai thác rừng trái phép đã giảm đi rất nhiều so với trước đây.
Mô hình phù hợp cho Việt Nam?
Tuy nhiên, theo tiến sĩ Sven Wunder, Chuyên gia cao cấp của Chương trình lâm nghiệp và sinh kế thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) thì lựa chọn đúng quy mô để hoạt động là điều tối quan trọng trong khi thực hiện một chương trình PES. Bởi như vậy nó sẽ phát huy được tính hiệu quả về chi phí, tính bền vững và bình đẳng.
TS Sven Wunder cho rằng, mặc dù Việt Nam đã triển khai thành công việc chi trả dịch vụ môi trường rừng ở hai tỉnh Lâm Đồng và Sơn La nhưng việc nhân rộng mô hình đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là cơ sở khoa học trong việc tính toán giá trị của dịch vụ mà rừng cung cấp, đi kèm với đó là nguồn ngân sách để thực hiện công việc này. “Ngoài ra, còn là khó khăn trong việc phân chia lợi ích giữa các bên đối với nguồn thu có được từ người mua dịch vụ. Một chương trình PES lớn có thể bao gồm nhiều địa phương khác nhau, nơi rừng cung cấp chất lượng dịch vụ khác nhau. Vì vậy cơ chế để phân chia lợi ích giữa các địa phương và từng nhóm hưởng lợi khác nhau như thế nào là điều cần bàn thảo”, ông chia sẻ.
Tại hội nghị lần này, nhiều ý kiến cũng băn khoăn rằng:Việt Nam nên đi theo cơ chế phát triển sạch (CDM), tức là cơ chế bồi hoàn carbon thông qua tái tạo và trồng mới rừng hay là theo cơ chế giảm phát khí thải bằng nỗ lực chống mất rừng và suy thoái rừng (REDD). Về vấn đề này, ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho rằng, việc trồng rừng và tái tạo rừng đi theo hướng CDM rất phức tạp đối với các nước đang phát triển như Việt Nam và không có lợi cho các hộ nghèo do đòi hỏi nguồn vốn lớn và thời gian kéo dài. Trong khi đó REDD có nhiều lợi thế hơn trong việc bảo vệ quyền lợi cho người nghèo do thu hút được sự tham gia của các hộ gia đình vào các hoạt động quy hoạch sử dụng đất rừng. Do đó, Tổng cục Lâm nghiệp đang nghiên cứu, thẩm định các chương trình để đảm bảo phân chia lợi ích một cách công bằng nhất tới cộng đồng cũng như xây dựng cơ chế chi trả bền vững và giám sát việc phân phối hiệu quả các dịch vụ liên quan./.
Nguyễn Tiến Dũng


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại