Chuyển bộ gõ
Xác định mục tiêu để thiết kế chính sách
Cập nhật lúc:  12:31 11/09/2012



(VEN) - Khẳng định vai trò “không thể thay thế” của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đối với nền kinh tế, nhưng cũng thẳng thắn thừa nhận những tồn tại, hạn chế sau 25 năm thu hút FDI. Những tồn tại này là do chính sách thu hút FDI của Việt Nam chưa nhất quán và thiếu rõ ràng. Đó là ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương về thực trạng thu hút FDI thời gian qua.

Được và chưa được
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sau 25 năm thu hút FDI, tính đến nay Việt Nam có 14.007 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký là 206,3 tỷ USD. Trong đó, vốn thực hiện là 96,6 tỷ USD, chiếm 46% tổng vốn đăng ký.
Lượng vốn FDI tập trung chủ yếu ở các ngành công nghiệp xây dựng; dịch vụ, chiếm lần lượt là 54,8% và 40% tổng vốn đăng ký… Khu vực FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và là khu vực có tốc độ phát triển năng động nhất. Ngoài những tác động và đóng góp trực tiếp, FDI có vai trò cầu nối giữa khu vực nội địa và nền kinh tế thế giới, có tác động thu hẹp khoảng cách phát triển trình độ công nghệ, trình độ quản lý, trình độ tay nghề lao động giữa Việt Nam và quốc tế.
Song, bên cạnh những kết quả, khu vực FDI cũng bộc lộ một số tồn tại. Nhiều doanh nghiệp báo cáo lỗ triền miên, dẫn đến câu hỏi về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp FDI; một số DN vi phạm Luật về môi trường, vi phạm Luật Lao động… Hơn nữa, mặc dù FDI luôn dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng công nghiệp, nhưng Việt Nam vẫn chưa ra khỏi “nấc thang” khá thấp của chuỗi giá trị toàn cầu; tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành/ lĩnh vực vẫn còn khá thấp; tình trạng cấp giấy phép tràn lan trong một số lĩnh vực như khai khoáng, sân golf, thép gần đây dẫn đến những quan ngại trong việc thực hiện phân cấp toàn diện công tác quản lý FDI.
Mục tiêu đặt ra trong thu hút FDI cũng không đạt được kết quả như mong muốn. Cụ thể, về mục tiêu lao động, mặc dù lao động trong khu vực FDI tăng lên hàng năm, nhưng đến nay vẫn chỉ chiếm 4% tổng lực lượng lao động của nền kinh tế; đặt mục tiêu vào công nghiệp nhưng các doanh nghiệp FDI hiện nay mới tập trung vào nhóm ngành tận dụng lao động giá rẻ và tận dụng chính sách bảo hộ công nghiệp của nhà nước…
Cơ chế chồng chéo, thiếu rõ ràng
Nói về nguyên nhân của những tồn tại này, ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, do chúng ta đặt ra quá nhiều mục tiêu về vốn, công nghệ, lao động, rồi mục tiêu thu hút đầu tư vào ngành, lĩnh vực, địa bàn ưu tiên,… vì thế dẫn đến dàn trải, thiếu tập trung. Một trong những nguyên nhân nữa làm cho hiệu quả khu vực FDI còn hạn chế đó là cơ chế pháp lý của chúng ta thiếu rõ ràng, văn bản nọ chồng chéo văn bản kia.
Đồng tình với quan điểm này, ông Bùi Huy Hùng - Vụ Hợp tác quốc tế và quản lý dự án của Văn Phòng Chính phủ cho rằng, chúng ta đang quá “cầu toàn” trong việc đặt ra các mục tiêu thu hút FDI mà “quên” mất rằng nhà đầu tư FDI tìm đến với chúng ta vì mục tiêu “tìm kiếm lợi nhuận” chứ không phải xây dựng, phát triển kinh tế xã hội. Nên “đừng đổ lỗi cho nhà đầu tư, về cơ bản là do chính sách của chúng ta thiếu rõ ràng, nhất quán”. Cụ thể, trong Luật Đầu tư thì nêu ưu đãi theo dự án, lĩnh vực, ngành, nhưng Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp thì lại ưu đãi theo doanh nghiệp. Chúng ta thiếu một chiến lược về thu hút, sử dụng và quản lý FDI ở tầm dài hạn.
Ông Nguyễn Sỹ Bích, Trưởng Ban quản lý KCN tỉnh Bắc Ninh lấy dẫn chứng một số luật liên quan đến thu hút FDI chồng chéo nhau như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp; Luật Đầu tư với Luật ưu đãi doanh nghiệp; Luật Môi trường với Nghị định hướng dẫn Luật lại cũng không thống nhất,…
Trưởng Ban quản lý KCN Hưng Yên Phạm Thái Sơn cho biết, thời gian vừa qua trên địa bàn Hưng Yên có một số nhà đầu nước ngoài đã vào Việt Nam đầu tư, vay nợ, rồi làm ăn thua lỗ, bỏ nhà máy, bỏ dự án về nước và không liên hệ được. Một số nhà đầu tư đăng ký xong không thực hiện, cũng không biết xử lý như thế nào vì luật không quy định rõ ràng.
Ông Sơn đặt câu hỏi, có lẽ thời gian vừa rồi chúng ta xây dựng Luật Đầu tư mà chú trọng quá nhiều đến việc nhà đầu tư vào, để làm sao giảm bớt những thủ tục, còn không chú ý đến khâu hậu kiểm…cần có sự thống nhất và rõ ràng trong các văn bản luật liên quan đến thu hút, quản lý FDI.
Làm gì để khắc phục tình trạng này? Tại cuộc họp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo thu hút FDI cần “Xác định thật rõ những ngành, lĩnh vực chúng ta cần ưu tiên, phát triển trong từng thời kỳ cho đến năm 2020, từ đó định hướng, thiết kế chính sách thu hút phù hợp vào từng ngành, lĩnh vực đó”.
Hướng thu hút FDI đến năm 2020
Theo như đề án “Đánh giá thực trạng thu hút FDI và định hướng đến năm 2020” vừa được Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo, lấy ý kiến Bộ, ngành, địa phương để trình Chính phủ thời gian tới đã nêu rõ, định hướng thu hút FDI đến năm 2020 là: Chuyển dần sang coi trọng cơ cấu và chất lượng FDI; thu hút FDI có hàm lượng cacbon thấp; thu hút FDI có công nghệ hiện đại; thu hút FDI nhằm phát triển nguồn nhân lực cao - lao động có kỹ năng; thu hút FDI nhằm tăng cường liên kết với DN trong nước, kết nối chuỗi giá trị và nâng chất trong chuỗi giá trị.
Để đạt mục tiêu trên, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chúng ta phải chấp nhận trong ngắn hạn dòng vốn FDI vào Việt Nam sẽ giảm; sẽ có một số nhà đầu tư nước ngoài ở những ngành công nghệ thấp, thâm dụng lao động, đòi hỏi cơ sở hạ tầng lớn, tiêu tốn nhiều năng lượng chuyển dịch đầu tư sang các nước có lợi thế cạnh tranh hơn so với Việt Nam… do đó việc giảm giá trị sản xuất, kim ngạch xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của Việt Nam là điều tất yếu; thu hút các dự án FDI sử dụng công nghệ cao, đi kèm với yêu cầu vốn đầu tư lớn và việc sử dụn ít lao động… tuy nhiên, nếu nhận thức rõ được vấn đề này và có biện pháp xử lý hữu hiệu sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tổng thể, lớn hơn trong dài hạn./.
Nguyễn Hòa


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại